Radio Logo
RND
Listen to {param} in the App
Listen to TẠP CHÍ ĐẶC BIỆT in the App
(171,489)
Save favourites
Alarm
Sleep timer
Save favourites
Alarm
Sleep timer
HomePodcastsNews
TẠP CHÍ ĐẶC BIỆT

TẠP CHÍ ĐẶC BIỆT

Podcast TẠP CHÍ ĐẶC BIỆT
Podcast TẠP CHÍ ĐẶC BIỆT

TẠP CHÍ ĐẶC BIỆT

add

Available Episodes

5 of 24
  • Tạp chí đặc biệt - Chiến tranh Đông Dương : Vị đắng ngày trở về
    Sức mạnh quân sự -nếu có, và sức mạnh tài chính không đủ đem lại chiến thắng. Paris không còn khả năng giữ thuộc địa Đông Dương. Sau trận Điện Biên Phủ, hiệp định Genève tháng 7/1954 và chính thức là đến 1956, toàn bộ binh sĩ Pháp đã rời khỏi Đông Dương với vị đắng trong ngày trở về. 1945-1954, hơn 280.000 quân nhân Pháp thuộc các binh chủng Bộ Binh, Không Quân và Hải Quân đã hiện diện trên chiến trường Đông Dương. Ngày trở về họ đã được tiếp đón như thế nào và sau một cuộc chiến gần 10 năm, còn đọng lại gì từ những đợt hành quân ở Viễn Đông ? Trong phần chót loạt bài về chiến tranh Đông Dương 1945-1954 dành cho RFI Việt ngữ, nhà sử học Michel Bodin nhấn mạnh đến sự thất vọng của những người lính Pháp thua trận trở về. Bất mãn lại càng lớn trước sự thờ ơ của công luận Pháp, nhất là khi họ nhận thấy rằng những người lính được điều sang Đông Dương chỉ là những con cờ trong tay các phe nhóm chính trị tại Paris. Theo thống kê được cập nhật của quân đội Pháp, đã có trên dưới 110.000 quân nhân tử trận tại Đông Dương trong đó có khoảng 23.000 người Pháp, 8.000 lính Lê dương, hơn 16.000 lính châu Phi (Bắc Phi và Hạ Sahara) cùng với lính bản địa … Để so sánh, các tài liệu của Pháp đưa ra con số từ 350.000 đến 500.000 thương vong trong hàng ngũ đối phương. Sau trận Điện Biên Phủ và cho đến năm 1956, những người lính cuối cùng của Lực Lượng Viễn Chinh Pháp rời Đông Dương. Tuy nhiên, nhà sử học Michel Bodin trong các công trình nghiên cứu nói đến « những đợt trở về », bởi vì trong số gần nửa triệu quân nhân được điều sang Đông Dương từ năm 1945 đến 1954, thời gian phục vụ trung bình là khoảng 2 năm, một số đã trở về, để rồi không ít người trong số đó đã tình nguyện quay lại Viễn Đông. Hơn nữa, mỗi đợt và đối với mỗi cá nhân, ngày trở về luôn là những kinh nghiệm khác nhau. RFI : Những người còn sống sót trong số trên 183.000 lính Bắc Phi và trong vùng Hạ Sahara từ chiến trận trở về nguyên quán thường được đón tiếp trong tiếng kèn, tiếng nhạc. Trái lại, những người lính Pháp khi đặt chân đến cảng Marseille thường vấp phải thái độ thù nghịch của một phần dân chúng, hay khá hơn là sự lạnh nhạt của công luận Pháp. Kính chào giáo sư Michel Bodin, cảm ơn ông trở lại với chương trình của RFI tiếng Việt. Trước hết, xin giáo sư đề cập đến hành trình của những người lính Viễn Chinh khi rời khỏi Đông Dương. Michel Bodin : « Khoảng 90 % các quân nhân trở về bằng đường thủy. Chiếc tàu nổi tiếng mang tên Pasteur được huy động để đưa những người lính phục vụ tại Đông Dương trong thời gian từ 24 đến 29 tháng về nước. Tàu được trang bị hai bệnh viện để điều trị cho thương binh. Những trường hợp bị nặng lắm thì mới được hồi hương bằng đường hàng không. Những người lính từ chiến trận trở về này được đón tiếp nhiều cách khác nhau : Từ năm 1947 trở đi, có nhiều đoàn thể do đảng Cộng Sản Pháp và công đoàn CGT huy động ra tận cảng Marseille chẳng hạn để phản đối chính sách của Pháp ở Đông Dương, nhưng lại nhắm vào các chiến binh. Các vụ tập hợp này căng thẳng đến nỗi chính phủ phải huy động cảnh sát để bảo vệ các quân nhân. Người ta hò hét, thóa mạ, phỉ nhổ, ném bù loong vào những người lính từ Đông Dương trở về. Trái lại lính Phi châu khi trở về nguyên quán thì được đón tiếp nồng hậu, trong tiếng kèn, tiếng nhạc… Do vậy có không ít các quân nhân Pháp khi đặt chân lên đất liền, họ chỉ muốn cãi lời cấp trên, lao ra so găng với người biểu tình gọi những người lính Đông Dương là lực lượng bán quân sự của Đức Quốc Xã ». Chiến tranh Algeri phát sinh từ ruộng đồng Đông Dương RFI : Trong các đợt trở về cuối cùng, tức là sau trận Điện Biên Phủ và cho đến năm 1956 thì sự cay đắng, nếu không muốn nói là sự hận thù, của những người lính này lại càng hằn sâu hơn nữa. Tuy nhiên, điều bất ngờ là tâm trạng hận thù đó không chỉ nhắm vào kẻ thù, tức là bên Việt Minh, bởi trong số hàng trăm nhân chứng trực tiếp mà giáo sư đã tiếp xúc dường như một số ít có cái nhìn tiêu cực về Đông Dương. Vậy thì sau những năm tháng chinh chiến, còn đọng lại gì nơi những người lính thuộc Lực Lượng Viễn Chinh Pháp ? Michel Bodin :  « Còn đọng lại đôi ba nét có khi trái ngược hẳn với nhau. Các chiến binh giữ lại kỷ niệm đẹp về phong cảnh của Đông Dương, về hình ảnh người đàn bà Đông Dương, về những bữa cơm ở nơi này. Với nhiều nhân chứng như thể là hàng chục năm sau, những hình ảnh, những hương vị của Đông Dương vẫn còn đọng lại qua ánh mắt, trên làn da của những người lính này. Nhưng bên cạnh đó thì đây cũng là một cuộc chiến khốc liệt. Cuộc chiến nào cũng khốc liệt cả, nhưng tại Đông Dương, các chiến binh đã trông thấy nhiều cảnh tượng khủng khiếp : họ tận mắt chứng kiến những cảnh tra tấn, những gia đình bị chôn trong các ổ kiến lửa, hay hình ảnh đồng đội bị tàn sát và có thể là chính họ đã nhúng tay vào những vụ khủng khiếp đó. Điều thứ ba đọng lại nơi những người lính này là khi trở về họ thực sự cảm thấy bị xúc phạm vì thái độ của công luận Pháp. Ngay cả trong hoàn cảnh khó khăn của chiến tranh, Sài Gòn hay Hà Nội vẫn tràn đầy nhựa sống. Trái lại, người Pháp ở trên ngay quê hương họ lúc nào cũng buồn tẻ, lạnh nhạt. Trong số rất nhiều những nhân chứng trực tiếp tôi có dịp tiếp xúc, chỉ có một vài người nói là họ không thích nghĩ về quãng thời gian ở Đông Dương. "Một số quân nhân có suy nghĩ sâu xa, thì họ ghê tởm chính giới ở Pháp (...) đã đem con bỏ chợ, phó mặc những người lính ở Đông Dương". Một điểm rất quan trọng khác là một số quân nhân có suy nghĩ sâu xa thì ghê tởm chính giới ở Pháp. Theo họ, chính phủ đã đem con bỏ chợ, phó mặc cho họ ở Đông Dương. Các quân nhân Pháp cũng chán ngán không kém khi nhận thấy rằng một trận bóng đá hay vòng đua xe đạp Tour de France thu hút chú ý nhiều hơn là tình hình ở Đông Dương, nơi những người lính Pháp đang chiến đấu. Cũng có người oán hận đảng Cộng Sản đã đồng ý điều quân sang Đông Dương để rồi quay sang ủng hộ Việt Minh. Thậm chí một số nhân chứng còn giải thích với chúng tôi rằng, đảng Cộng Sản Pháp đã phá hoại những thiết bị mà Pháp gửi sang Đông Dương để hỗ trợ các chiến binh. Từ sự bất mãn đó nảy sinh tinh thần nổi loạn và đây là điều hết sức quan trọng giải thích về những diễn biến sau này trong cuộc chiến ở Algeri. Sẽ không thể hiểu được thái độ của giới quân nhân Pháp tại Algeri nếu như chúng ta bỏ qua những gì từng xảy ra tại Đông Dương. Nói cách khác, sự nổi loạn trong hàng ngũ quân đội Pháp tại Algeri phát sinh từ những ruộng lúa ở Đông Dương ». RFI : Giáo sư muốn nói đến một sự rạn nứt trong giới quân nhân đối với chính giới của Pháp ?    Michel Bodin : « Họ không được chính giới Pháp hỗ trợ, bởi vì Pháp vẫn cứ tưởng còn là cường quốc, đủ sức đối phó với mọi mặt, từ trên mặt trận châu Âu trước mối đe dọa quân sự của Liên Xô, đến việc duy trì sự hiện diện cả tại châu Phi lẫn Đông Dương. Nhưng thực tế cho thấy, chiến tranh Đông Dương vượt ngoài khả năng của nước Pháp. Bằng chứng là đến cuối cuộc chiến này, năm 1954, thì 85 % ngân sách quân sự của Pháp do phía Hoa Kỳ đài thọ » . Điện Biên Phủ xuất phát từ thất bại chính trị của Paris RFI : Một số rạn nứt trong nội bộ quân đội Pháp bắt nguồn từ những « phương tiện eo hẹp » của Lực Lượng Viễn Chinh, « từ những thiếu thốn về trang thiết bị, từ những phương tiện chiến đấu không phù hợp với địa hình ở Đông Dương, từ những sai lầm về chiến thuật » (Les combattants français face à la guerre d’Indochine 1945-1954 – Các chiến binh Pháp đối mặt với chiến tranh Đông Dương -1945-1954 tr. 252-253). Sức mạnh về quân sự -nếu có, về tài chính không đủ để đem lại chiến thắng. Tháng 5 rồi tháng 7/1954 những hình ảnh Điện Biên Phủ còn chưa nhòa, thì Pháp đã phải dồn hết nỗ lực quân sự sang một mặt trận mới là Algeri. Chiến tranh Đông Dương đã ảnh hưởng như thế nào đến cuộc chiến đòi độc lập của người dân Algeri – Bắc Phi ? Ảnh hưởng đến mức độ nào đối với làn sóng phi thực dân hóa ở nhiều nước châu Phi ? Michel Bodin : « Vấn đề chủ yếu đặt ra cho Bắc Phi, bởi thực sự ra Đông Dương không ảnh hưởng gì đến khu vực châu Phi Hạ Sahara cả. Ngay từ năm 1950 những phong trào dân tộc chủ nghĩa ở Tunisia, hay Maroc bắt đầu được hình thành. Mãi đến năm 1954 Algeri không mấy quan tâm đến những chuyển biến tại Đông Dương. Thực ra thì những người lính Maroc hay Tunisia tham chiến trong hàng ngũ của Pháp họ cũng chỉ sợ là bị điều động để cầm súng bảo vệ quyền lợi của Pháp trên quê hương họ mà thôi. Và số này đã tuyên bố rõ ràng là họ sẵn sàng chiến đấu ở bất kỳ một mặt trận nào, ngoại trừ ở ngay trên quê hương họ. Riêng trong trường hợp của Algeri, đúng là đã có một vài sự cố xảy ra giữa các quân nhân Algeri với cấp trên, nhưng đó chỉ là một vài ngoại lệ. Chỉ biết rằng, theo những báo cáo của bên quân đội Pháp, tác động từ các chiến dịch ‘địch vận’ của Việt Minh đối với binh sĩ các nước thuộc địa không nhiều. Ảnh hướng đối với những người lính châu Phi rất hạn hẹp. Nói cách khác, tác động của các chiến dịch tuyên truyền không ảnh hưởng nhiều đến giới quân nhân từ những xứ thuộc địa của Pháp. Tôi không muốn nói là cuộc chiến Đông Dương không ảnh hưởng gì đến các phong trào đấu tranh đòi độc lập ở các xứ thuộc địa. Tôi cũng không muốn nói là các nhà lãnh đạo ở những xứ này gạt bỏ ngoài tai chuyển biến ở Đông Dương. Rất có thể là Điện Biên Phủ đã châm ngòi cho cuộc nổi dậy vũ trang tại Algeri tháng 11 năm 1954. Nhưng các tài liệu lưu trữ cho thấy đa số những người lính ở khu vực Hạ Sahara từ Đông Dương trở về vẫn trung thành với đơn vị trong quân ngũ và cũng không mấy ai đào ngũ để đứng về phía các nhóm nổi dậy. Đó là bài học lớn, trừ phi các tài liệu lưu trữ sau này đem lại cho chúng ta những thông tin khác ». "Những người lính Đông Dương bị đẩy vào một chiến dịch đầy gian nan trong những điều kiện tệ hại nhất" RFI : Chân thành cảm ơn giáo sư Michel Bodin, chuyên gia về lịch sử quân đội Đông Dương đã trở lại với sự hình thành của Lực Lượng Viễn Chinh Pháp, với chân dung những người lính từng « tham gia vào những chiến dịch đầy gian nan, trong những điều kiện tệ hại nhất ». Trong khi ở phía bên kia, « quyết tâm của đối phương không hề suy suyển, lực lượng của họ càng lúc càng đông, và ngày càng được trang bị nhiều vũ khí ». « Bị suy yếu sau Thế Chiến Thứ Hai liệu rằng Pháp có phương tiện duy trì Đông Dương hay không ? Và liệu rằng nước Pháp có sẵn sàng để chấp nhận một số hy sinh vì một vùng thuộc địa xa xôi hay không ? » (La France et ses soldats, Indochine, 1945-1954 – Pháp và những người lính, Đông Dương 1945-1954, tr.7-8). ***** * Sách vài tài liệu tham khảo : - La France et ses soldats, Indochine,  1945-1954 – Pháp và những người lính, Đông Dương 1945-1954 - NBX L’Harmattan (1996). - Soldats d’Indochine 1945-1954 – Lính Đông Dương 1945-1954 - NBX L’Harmattan NBX L’Harmattan (1997). - Les combattants français face à la guerre d’Indochine 1945-1954 – Các chiến binh Pháp đối mặt với chiến tranh Đông Dương -1945-1954, NBX L’Harmattan (1998). - Les Africains dans la guerre d’Indochine 1947-1954 – Châu Phi trong chiến tranh Đông Dương 1947-1954, NBX L’Harmattan (2000). - Le Corps Expéditionnaire Français en Indochine, 1945-1954, le soldat des forces terrestres – Lực Lượng Viễn Chinh Pháp tại Đông Dương, 1945-1954, lính bộ binh (Luận án tiến sĩ đại học Paris I-Panthéon-Sorbonne, 1991).
    9/18/2021
    10:28
  • Tạp chí đặc biệt - Thánh chiến Hồi Giáo hoán thân đổi xác
    20 năm săn lùng Al Qaeda, thế giới vẫn phải chung sống với đe dọa khủng bố. Hai tuần lễ trước ngày Hoa Kỳ tưởng niệm loạt tấn công 11/09/2001, 13 lính Mỹ và cả trăm người Afghanistan thiệt mạng trong vụ khủng bố gần phi trường Kabul.   Đó là dấu hiệu rõ rệt nhất cho thấy mục tiêu diệt trừ khủng bố tận gốc rễ là điều không tưởng và « cuộc chiến toàn diện » được khởi động cách nay hai thập niên không cho phép vô hiệu hóa các nhóm thánh chiến Hồi Giáo. « Cuộc săn lùng thủ phạm những hành vi ác độc này đã mở màn. Chúng ta sẽ không phân biệt quân khủng bố với những ai che chở cho chúng ». Đêm 11/09/2001 từ Nhà Trắng tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush đã tuyên chiến với quân khủng bố. Đây là lần thứ ba ông phát biểu trong ngày. Trước đó vài giờ, thành phố New York bị tấn công. Trung tâm tài chính của siêu cường số 1 thế giới rơi vào cảnh hoảng loạn. Một lớp khói, tro bụi phủ kín một phần lớn đảo Manhattan. Sáng Thứ Ba, 11/09/2001, trong chưa đầy 20 phút, 8 giờ 46 phút rồi 9 giờ 3 phút, hai chiếc máy bay lao thẳng vào tòa tháp đôi khu World Trade Center, New York. Nửa tiếng sau đó một chiếc máy bay thứ ba với 64 hành khách và phi hành đoàn đâm vào bộ Quốc Phòng Mỹ. 10 giờ 6 phút, chiếc máy bay thứ tư rơi tại bang Pennsylvania, cách thủ đô Washington chưa đầy nửa giờ bay. Tại New York, 9 giờ 59 phút và 10 giờ 28 phút, hai tòa tháp đôi tháp South và North Tower sụp đổ, chôn sống hàng ngàn nạn nhân. Trong chưa đầy 90 phút buổi sáng hôm đó, xảy ra bốn vụ cướp máy bay : đó là bốn vụ khủng bố tự sát do 19 tên không tặc tiến hành, 2.977 người thiệt mạng trong ngày 11/09/2001. Trước ống kính truyền hình của cả thế giới tổng thống George W. Bush nói đến một « thời khắc khó khăn mà Hoa Kỳ phải đối mặt » và khẳng định ngay là sẽ « không dung thứ cho những kẻ khủng bố », « đã tấn công vào Tự Do ». Thông điệp của Nhà Trắng rất rõ ràng : « Những giá trị của Tự Do sẽ được bảo vệ ». Cùng ngày 11/09/2001, truyền thông Hoa Kỳ đã đích danh nêu tên thủ phạm : Oussama Ben Laden. Ngày 07/10/2001 Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc bật đèn xanh cho Washington can thiệp vào Afghanistan, nơi mà dưới sự bảo trợ của phong trào Hồi Giáo cực đoan Taliban, thủ lĩnh Al Qaeda, Oussama Ben Laden và đồng lõa đã lên kế hoạch tấn công vào những biểu tượng của sức mạnh Hoa Kỳ, vào biểu tượng của thế giới tự do. Mỹ dẫn đầu chiến dịch « Tự Do Kiên Định – Enduring Freedom ». Dưới chính quyền Bush « War on Terrorism », « War on Terror » hay « Global War on Terror », là những tên gọi khác nhau trong các chiến dịch quân sự khởi động hồi tháng 10/2001. Mặt trận đầu tiên là Afghanistan. Mỹ trong tầm ngắm của Al Qaeda Trả lời đài RFI tiếng Việt, Marc Hecker giám đốc Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp IFRI, đồng tác giả cuốn La Guerre de vingt ans. Djihadisme et contre-terrorisme au XXIe siècle – Cuộc chiến 20 năm. Thánh Chiến và chống khủng bố thế kỷ XXI. NXB Robert Laffont (2021), nhắc lại về lai lịch Al Qaeda.  Marc Hecker : « Al Qaeda là một nhóm khủng bố thánh chiến được hình thành từ cuối thập niên 1980 với những thành phần xuất thân từ hàng ngũ djihad ở Afghanistan đánh đuổi quân Liên Xô khỏi quốc gia Nam Á này. Đến những năm 1990 Al Qaeda thực sự nhắm vào Hoa Kỳ. Năm 1996 lãnh đạo Al Qaeda là Oussam Ben Laden. Ông này là một công dân Ả Rập Xê Út, chứ không phải là người Afghanistan, đã công khai tuyên bố tiến hành thánh chiến chống Mỹ. Nhóm khủng bố Hồi giáo này mở nhiều đợt tấn công nhắm vào các quyền lợi của Hoa Kỳ : 1998 tòa đại sứ Mỹ ở thủ đô Nairobi – Kenya, sứ quán Hoa Kỳ ở Tanzania bị khủng bố tấn công. Hai năm sau, tàu chiến của Mỹ trong vùng biển Yemen là mục tiêu bị nhắm tới. Đương nhiên, ngoạn mục nhất là loạt tấn công 11 tháng 9 năm 2001 ngay trên lãnh thổ Hoa Kỳ, siêu cường số 1 thế giới. Al Qaeda ra tay cùng một lúc nhắm vào biểu tượng tài chính là khu Thương Mại Thế Giới World Trade Center ở New York, vào trung tâm quyền lực quân sự là Lầu Năm Góc, và rất có thể là vào biểu tượng chính trị của nền dân chủ Hoa Kỳ là tòa nhà Quốc Hội Capitol. Nhưng nhờ nhiều hành khách can thiệp, chiếc máy bay thứ tư này đã rơi trên một cánh đồng trước khi nhắm trúng mục tiêu ». Tấn công Afghanistan Do vậy mặt trận đầu tiên trong cuộc chiến chống khủng bố phải là Afghanistan. Marc Hecker giải thích tiếp. Marc Hecker : « Sau loạt tấn công 11 tháng 9, Hoa Kỳ tuyên bố mở cuộc chiến toàn diện chống khủng bố. Mục tiêu chính là diệt trừ Al Qaeda. Afghanistan là mặt trận đầu tiên, do đây là nơi trùm khủng bố Oussama Ben Laden chọn làm cứ điểm và ông này được Taliban che chở. Al Qaeda đã lập nhiều trại huấn luyện trên lãnh thổ Afghanistan. Tháng 10/2001 Mỹ bắt đầu tấn công, gây nhiều thiệt hại nghiêm trọng cho Al Qaeda : tất cả các trại đào tạo chiến binh djihad đều bị phá hủy, hàng ngũ của Taliban tan tác. Phong trào Hồi Giáo cực đoan này bị lật đổ năm 2001. 80 % chiến binh Al Qaeda bị vô hiệu hóa : số thì bị bắt, một số khác bị thương, hoặc tử vong. Các thủ lĩnh của Al Qaeda phải bỏ chạy khỏi Afghanistan, trốn chui trốn nhủi. Điều đó không cấm cản năm 2011 Ben Laden bị giết chết. Nhưng từ trước khi Ben Laden bị tiêu diệt, nhóm khủng bố này đã cải tổ lại cơ cấu theo hai hướng chính để tiếp tục tồn tại : Một là bám sâu vào từng khu vực địa lý, gây dựng những chi nhánh tùy theo từng vùng. Chi nhánh ở Irak được hình thành năm 2004 ; ở Bắc Phi là quãng 2006-2007, rồi ở vùng bán đảo Ả  Rập vào năm 2009… Đương nhiên là Al Qaeda vẫn duy trì căn cứ tại Nam Á, tức là Afghanistan. Hướng phát triển thứ nhì của Al Qaeda là đầu tư nhiều vào các chiến dịch tuyên truyền ở quy mô quốc tế. Ý tưởng ở đây là kêu gọi những người Hồi giáo ở khắp mọi nơi tham gia thánh chiến, tham gia các hoạt động khủng bố, nhắm vào an ninh của các nước phương Tây. Để đạt mục đích này, Al Qaeda phổ biến những cẩm nang hướng dẫn những người bình thường ra tay, tiến hành các vụ khủng bố. Hình thức này đã khá phổ biến và đã dẫn tới những vụ tấn công thường được gọi là từ những “con sói đơn lẻ”. Như vậy những thủ phạm không nhất thiết phải là những chiến binh với nhiều kinh nghiệm hay có liên hệ trực tiếp với các đường dây khủng bố ». Sau Hoa Kỳ, trong hai thập niên qua, các tổ chức thánh chiến Hồi Giáo đã gieo rắc kinh hoàng khắp năm châu, từ Ấn Độ tới Indonesia, từ Somalie đến Maroc, hay Ai Cập, tại châu Âu thì các vụ tấn công ở Luân Đôn, Paris hay Madrid, Frankfurt khiến công luận bàng hoàng. Ngay cả những quốc gia thanh bình như Thụy Điển ở Bắc Âu hay New Zealand mãi tận bên kia bán cầu cũng không được bình yên. Trên đài RFI Việt ngữ Marc Hecker đồng tác giả cuốn sách vừa cho ra mắt độc giả Pháp, Cuộc chiến 20 năm. Thánh Chiến và chống khủng bố thế kỷ XXI giải thích về sức kháng cự đó trước liên minh quốc tế hàng ngàn tỷ đô la mà phương Tây đã liên tục đổ vào trên dưới 80 mặt trận chống thánh chiến khác nhau trên địa cầu, từ Syria đến Somalia. Marc Hecker : « Các nhóm khủng bố đó vẫn tồn tại và vẫn hoạt động rải rác khắp nơi với mức độ nguy hiểm tùy theo từng vùng, tùy theo khả năng kháng cự trước những chiến dịch chống khủng bố của cộng đồng quốc tế. Sự thực là không một nơi nào trên thế giới có thể khẳng định là đã hoàn toàn diệt trừ khủng bố. Tại một số khu vực như ở vùng Sahel trải rộng từ miền đông sang miền tây Phi châu, Al Qaeda đã tỏ ra thực tiễn : họ hòa mình vào đời sống của các bộ tộc, kết thân với các bộ tộc đó để trụ lại những khu vực này một cách lâu dài và tiếp tục chiến đấu. Nhưng bên cạnh đó, thì phải chú ý đến một tổ chức khủng bố khác, thù nghịch với Al Qaeda đó là Daech. Cả hai cùng tranh giành ảnh hưởng để thống lĩnh các phong trào khủng bố trên thế giới. Hai tổ chức này kình chống nhau. Daech có chiến thuật tàn bạo và khát máu hơn Al Qaeda. Daech là thủ phạm những vụ tấn công đẫm máu hồi 2013-2015. Nhưng rồi từ 5 năm qua, tổ chức tự nhận là Nhà Nước Hồi Giáo này đã sa sút nhiều. Nhưng Al Qaeda hay Daech vấn hiện hữu, vẫn có khả năng cầm cự và cả hai cùng nguy hiểm như nhau ». Trong mục tiêu chống khủng bố, loạt tấn công 11/09/2001 thúc đẩy hợp tác quốc tế, bởi như ghi nhận của Frank Emmanuel Caillaud và Bruno Delamotte, Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS, trong bài tham luận năm 2001 trong tập sách mang chủ đề Những bài học từ 11 tháng 9, mọi quốc gia đều ý thức rằng đó là giải pháp để « bảo vệ tốt hơn an ninh cho chính mình ». Hai thập niên sau, giám đốc Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp – IFRI, Marc Hecker phân tích thêm về những tiến bộ của quốc tế trong việc hơp tác chống khủng bố đó : Marc Hecker : « Hợp tác quốc tế đã liên tục được mở rộng. Ngay sau loạt khủng bố 11 tháng 9 Mỹ đã khởi động chiến dịch chống khủng bố toàn diện. Hoa Kỳ không đơn thương độc mã khi lao vào trận chiến Afghanistan. Điều khoản 5 của NATO lần đầu tiên trong lịch sử được áp dụng. Các đồng minh của Mỹ trong Liên Minh Bắc Đại Tây Dương đã sát cánh với Hoa Kỳ - khác với những gì xảy ra hai năm sau đó khi Washignton can thiệp quân sự tại Irak. Điều quan trọng không kém là trong số những đồng minh cùng với Mỹ tham chiến ở Afghanistan có các các quốc gia Hồi Giáo. Ngoài vế quân sự, hợp tác ở cấp quốc tế cũng đã được ghi nhận trên rất nhiều lĩnh vực khác, thí dụ như trên mặt trận tài chính để chận các nguồn thu nhập của các nhóm khủng bố, hay hợp tác chống chiến dịch tuyên truyền tuyển mộ chiến binh thánh chiến … Cộng đồng quốc tế đã rất năng động, kể cả những chương trình hợp tác ở cấp vùng, như là tại châu Âu hay châu Phi chẳng hạn ». Điều khó hiểu là bất chấp hàng ngàn tỷ đô la chi ra, 8.000 tỷ đô la trong 20 năm qua, theo như thẩm định của đại học Mỹ, Brown- bang Rhode Island, và liên minh bao gồm những thế lực quân sự hàng đầu thế giới, là Hoa Kỳ, châu Âu … và cả sự hậu thuẫn của các nước Hồi Giáo, vậy mà vào lúc kỷ niệm 20 năm loạt khủng bố 11 tháng 9, một trung tâm nghiên cứu lâu đời của Mỹ như American Enterprice Institute, tại Washington lại báo động « đề cao cảnh giác » do nhiều nhóm thánh chiến « đã kêu gọi gia tăng các đợt tấn công nhắm vào phương Tây ». Al Qaeda có bị suy yếu, đối thủ của Al Qaeda là Daech, có sa sút và đánh mất nhiều thành trì tại Syria và Irak, và cũng có thể là không còn khả năng lên kế hoạch tấn công quy mô như loạt khủng bố tại Paris ngày 13/11/2013 nhưng các chi nhánh của Tổ Chức Nhà Nước Hồi Giáo tại Nigeria, Mali hay Yemen thì « vẫn con năng động. Daech vẫn có sức thu hút những chiến binh mới ». Nhà ngoại giao James Jeffrey, nguyên là đặc sứ Hoa Kỳ bên cạnh liên minh quốc tế chống khủng bố trong tuần ghi nhận « vẫn tồn tại một phần nguy cơ Daech diễn lại kịch bản tấn công như đã từng thấy tại châu Âu và một lần nữa đó có thể là những vụ tấn công sẽ lại do những cá nhân đã bị phương pháp hành động của quân thánh chiến thôi thúc ».   Trong bối cảnh đó, Marc Hecker, giám đốc viện IFRI của Pháp đồng tác giả cuốn sách nói về cuộc chiến chống khủng bố trong 20 qua, kết luận : Marc Hecker :« Một trong những bài học 20 năm vừa qua là không thể diệt trừ hoàn toàn quân thánh chiến bởi vì lý tưởng của các nhóm Hồi giáo cực đoan này rất là mạnh. Tây phương và ngay cả các nước Hồi Giáo như Indonesia, Malaysia hay các vương quốc dầu hỏa Trung Đông cũng không thể loại bỏ hẳn được những tư tưởng cực đoan đó. Hơn nữa luôn luôn có những yếu tố xã hội, chính trị, những điều kiện kinh tế khiến một số quốc gia, một số thành phần bị những tư tưởng cực đoan đó cuốn hút. Thành thử thay vì đề ra mục tiêu bài trừ khủng bố tận gốc rễ, theo tôi, có lẽ chúng ta nên hướng tới mục đích “khoanh vùng”, tránh để đe dọa khủng bố trở nên quá lớn, tránh quá nguy hiểm và lan quá rộng về mặt địa lý ».
    9/11/2021
    9:47
  • Tạp chí đặc biệt - Khủng bố Paris 2015 : Nỗi ám ảnh vẫn không nguôi
    Gần sáu năm sau vụ khủng bố đẫm máu nhất từ trước đến nay ngay giữa thủ đô Paris của nước Pháp, hôm nay 08/09/2021 mở ra phiên tòa lịch sử kéo dài 9 tháng. Hai mươi bị cáo sẽ bị xét xử, trong đó có thành viên duy nhất còn sống của nhóm khủng bố là Salah Abdeslam. Vụ án được đặt tên là V13, tức Vendredi 13, thứ Sáu ngày 13. Ngày hôm ấy diễn ra trận đấu giữa đội tuyển bóng đá Pháp và đội Đức, đương kim vô địch thế giới. Tổng thống Pháp François Hollande ngồi cạnh ngoại trưởng Đức Frank-Walter Steinmeier, sân vận động Stade de France chật kín người. Trận đấu vừa bắt đầu khoảng 15 phút thì có một tiếng nổ, khán giả reo hò trước tiếng pháo có hơi to hơn thường lệ. Trước cổng D, một quân thánh chiến vừa kích hoạt đai chất nổ lúc 21 giờ 16. "Khoan, có một quả bom vừa nổ, có lẽ là ở sân vận động Stade de France. Quả bom thứ hai nổ, chạy đi, có khủng bố…" Manuel Colaço Dias, tài xế xe buýt vừa đưa một đoàn cổ động viên đến rồi vào quán uống cà phê, là nạn nhân đầu tiên trong số 130 người thiệt mạng ngày hôm ấy. Bốn phút sau, một tiếng nổ lớn thứ hai vang lên. Trước cổng H, một quân thánh chiến thứ hai kích hoạt chiếc áo chứa chất nổ, sức công phá mạnh đến nỗi những mảnh thi thể của hắn văng xa nhiều mét. 21 giờ 24, tại trung tâm Paris. Một chiếc xe hơi Seat màu đen mang bảng số Bỉ dừng lại trước bar Le Carillon và nhà hàng Le Petit Cambodge. Ba tên khủng bố mang súng trường nả đạn vào những người khách, chỉ trong hai phút cướp đi sinh mạng của 13 người gồm sinh viên, bác sĩ, kiến trúc sư… Cách đó 400 mét, chúng nổ 110 phát đạn, giết thêm 5 người và làm mấy chục người bị thương. 21 giờ 36, một nhóm bạn mừng sinh nhật ở nhà hàng La Belle Equipe lãnh 164 phát súng: 21 người chết. Một phút sau, một chiếc xe hơi Polo đen đậu không xa nhà hát Bataclan, nơi đang có buổi diễn của nhóm nhạc rock Eagles of Death đầy chật khán giả. Cảnh tượng đẫm máu nhất diễn ra tại đây. Một máy ghi âm tìm thấy ở balcon nhà hát ghi lại 2 giờ 32 phút kinh hoàng: những tiếng kêu la cầu cứu, mệnh lệnh của những kẻ sát nhân, những tiếng nói cuối cùng của các nạn nhân, xen kẽ những tràng đạn. Có đến 90 người vô tội, hầu hết trẻ tuổi, đã bị sát hại tại đây. Một người sống sót kể lại: « Tôi đang ở trong rạp hát khi nhiều kẻ vũ trang bước vào trong lúc ban nhạc đang trình diễn; đó là nhạc hard rock. Ba, hoặc bốn người đi vào mang theo súng máy loại Kalachnikov và bắt đầu xả súng vào đám đông, tôi thấy rất nhiều người bị thương. » Tổng cộng có 130 người thiệt mạng và trên 350 người bị thương trong các vụ thảm sát hôm đó. Trong phiên tòa ngoại hạng hôm nay, có 1.800 nguyên đơn dân sự, 330 luật sư và 300 nhà báo đến từ nhiều nước. Chỉ riêng danh sách gồm tên, địa chỉ những người sống sót, bị thương, nhân chứng…đã dài đến 60 trang. Amélie, một nạn nhân may mắn thoát chết thổ lộ: « Tôi không mấy chờ đợi sẽ có những tiết lộ. Tôi theo dõi cuộc điều tra vì các thẩm phán thông tin từ từ cho chúng tôi. Tôi không nghĩ là bị cáo chính Salah Abdeslam sẽ khai báo, anh ta được hy vọng sẽ hợp tác nhưng tôi không cho rằng sẽ có những tiết lộ đáng kể. Điều quan trọng là những gì mà tư pháp đã điều tra được xung quanh các đồng phạm. Thật kỳ lạ, tôi căm ghét bọn đồng lõa hơn, tôi luôn nghĩ rằng kiểu khủng bố này không thể diễn ra, nếu không có đủ loại hoạt động hỗ trợ, từ tài chính cho đến nơi trú ẩn trước và sau vụ khủng bố. Những kẻ đó biết họ tham gia làm chuyện gì. Thật ra đây không phải là ý muốn trả thù, tôi chỉ muốn công lý được thực thi mà thôi. » Trong số nguyên đơn ra tòa lần này có bà Véronique. Claire, 23 tuổi, con gái duy nhất của bà, bị sát hại tại Bataclan, chỉ được nhận diện bốn ngày sau đó. Anh bạn của cô đến nhà lúc 5 giờ sáng, cho biết Claire bị trúng đạn ở đùi,nhưng anh không thể đưa ra được vì có quá nhiều xác chết xung quanh, anh cố kéo cô lại gần cửa để bộ phận cấp cứu dễ tìm thấy. Gia đình đi tìm khắp nơi, đã gọi 10.000 cuộc và người ta nói sẽ gọi lại 50.000 lần. Tin rằng con gái bị thương đang nằm ở bệnh viện nào đó, bà và em gái đi khắp các bệnh viện kể cả ở tỉnh. Sau ba ngày tìm kiếm, đến nơi tiếp thân nhân ở trường Quân Sự, bà hỏi « Còn ai đang hôn mê mà chưa nhận diện được không ? », và ngất xỉu khi nghe viên chức tiếp dân trả lời « Không ! » Đến tối thứ Ba 17/11/2015, mới có tin chính thức Claire đã qua đời. Ở nhà vĩnh biệt, cô được gọi là X, rắc rối nhận dạng có lẽ do thẻ đi tàu của một phụ nữ khác tìm thấy nơi cô. Bà chỉ có 7 phút để nhận diện. Véronique xin nghỉ không lương đến cuối năm để tham dự phiên tòa, để có dịp nói về cô con gái có hai bằng thương mại và triết, vừa mới được tuyển dụng chưa kịp nhận việc. Về những giây phút chờ đợi khắc khoải, sự tìm kiếm để biết được người con thân yêu đã chết như thế nào. Maryline và Jacky Le Guen cũng sẽ lên tiếng tại phiên tòa, họ đã quyết định như vậy cùng với luật sư. Cặp vợ chồng có ba người con trai đều có mặt ở Bataclan trong vụ thảm sát hôm ấy. Ý tưởng đi nghe nhạc là từ Renaud, người con trai lớn vốn hâm mộ nhạc rock. Anh rủ bạn gái, hai em trai và cô bạn của em trai út cùng đi. Khi bọn khủng bố bắt đầu ra tay, cả nhóm bị lạc nhau. Cô bạn của Renaud trốn trong trần nhà giả, cô bạn của em trai thì chạy thoát được, báo tin cho Maryline và Jacky Le Guen. Họ gọi điện liên tục nhưng không ai trả lời. Trong suốt hai tiếng đồng hồ, cặp vợ chồng nghĩ rằng cả ba con trai đã chết. Nhưng chỉ có Renaud thiệt mạng. Hai người em trai sống sót nhờ giả chết ở ngay dưới chân bục sân khấu trong suốt một tiếng rưỡi đồng hồ, nghe tiếng đạn bay chiu chíu xung quanh. Cậu út lúc thoát ra được khỏi nhà hát, người dính đầy máu của tên khủng bố đã tự kích nổ trên sân khấu. Hai vợ chồng vẫn sống trong căn nhà ở ngoại ô Paris, nơi những đứa trẻ đã lớn lên. Ngôi vườn dường như còn lưu giữ tiếng cười của mấy anh em thuở nhỏ trong những bữa điểm tâm sáng Chủ nhật. Trong phòng khách là những bức chân dung của Renaud, mãi mãi ở tuổi 29. Hai người em lúc đó 15 và 25 tuổi chỉ nói về thảm kịch với cha mẹ đúng một lần, và từ đó đến nay gắn bó với nhau hơn bao giờ hết. Maryline và Jacky không bao giờ biết được Renaud ở đâu trong nhà hát. Anh qua đời tại bệnh viện Pitié-Salpêtrière vài giờ sau vụ tấn công, được một người thân trong gia đình tìm được sau khi đã đi khắp các bệnh viện Paris cùng với tấm ảnh. Nếu hai ông bà muốn lên tiếng trong phiên tòa, đó là vì Renaud. Bà Paula Vieira, một cư dân sống gần các quán cà phê bị tấn công, trốn vào một khu nhà gần đó và thức trắng đêm cùng với những người khác, tâm sự : « Từ hôm đó tôi cảm thấy như mình không còn là mình nữa, nhưng tôi phải thuận theo, phải cố sống, nhưng chẳng bao giờ như xưa. Giờ đây tôi sợ tất cả mọi thứ, bất kỳ tiếng động nào cũng làm tôi sợ. Nhưng tôi phải sống với tình trạng đó thôi. Những hình ảnh lại quay về. Tôi thấy người chết nằm trên mặt đất, trên lề đường… những ác mộng quay trở lại. Tôi nhớ hồi xảy ra vụ khủng bố Charlie Hebdo, có nhiều nhà báo từ khắp nơi đến phỏng vấn. Chồng tôi nói ở Paris chuyện này có thể xảy ra bất kỳ lúc nào, và không ngờ giờ đây lại xảy đến với tôi. ». Không phải ai cũng có can đảm sống lại những giây phút kinh hoàng ấy.Trong số 1.800 nguyên đơn, « chỉ » có khoảng 280 người tham dự phiên tòa. Ra làm chứng hay không ? Đó là chọn lựa khó khăn của các nạn nhân. Những hình ảnh, tiếng động rùng rợn quay về như một cuộn phim, những đêm mất ngủ… tổn thương nơi họ kéo dài và đa dạng. Gần sáu năm đã trôi qua, nếu thời gian đã làm nhẹ bớt cú sốc nơi một số nạn nhân, số khác vẫn ở trong trạng thái hậu chấn thương. Giáo sư Francis Eustache chuyên về tâm lý-thần kinh, đồng chủ trì chương trình nghiên cứu « 13 tháng 11 » trong 10 năm ghi nhận gần đây đã có sự cải thiện nhưng rất ít. « Năm năm, đối với một chấn thương khủng khiếp như vậy và theo kiểu như thế, thì vẫn còn quá gần ». Ra tòa để làm gì khi hầu hết các thủ phạm chính đều đã chết ? Để nói thay cho người thân không bao giờ còn có dịp cất lên tiếng nói, để từ vai trò nạn nhân của bọn khủng bố, lại trở về với tư cách công dân của một quốc gia - mà tư pháp độc lập là tiếng nói tối hậu của công lý.
    9/8/2021
    9:36
  • Tạp chí đặc biệt - Chiến tranh Đông Dương : Pháp huy động lính thuộc địa Phi sang Việt Nam
    Gần một nửa triệu lính Pháp đã điều sang Đông Dương trong thời gian 1945-1954 và đến cuối cuộc chiến, 16 % Lực Lượng Viễn Chinh là những người lính châu Phi. Những người lính Đông Dương tới nay vẫn là « một ẩn số ». Những bài viết về đóng góp của những người lính từ thuộc địa châu Phi trong Lực Lượng Viễn Chinh Pháp ở Đông Dương lại càng hiếm hoi hơn. Một phần lớn các công trình nghiên cứu của nhà sử học Michel Bodin* tập trung vào các thành phần tham gia Lực Lượng Viễn Chinh trong Lục Quân Pháp tại Đông Dương. Ông là tác giả của nhiều tập sách nói về những người lính Pháp, những người lính châu Phi, cho dù Lực Lượng Viễn Chinh còn bao gồm luôn cả binh đoàn Lê Dương với những chiến binh là người nước ngoài tình nguyện và lính bản xứ. Huy động châu Phi để bù đắp cho sự thiếu hụt nhân sự Động lực nào khiến Paris điều động nguồn nhân lực từ vùng thuộc địa châu Phi sang mãi tận Đông Dương ? Những người lính châu Phi đó là ai và cuộc chiến 1945-1954 đó có tác động nào đối với các phong trào đấu tranh giành độc lập từ ở Algeri đến Maroc hay Tunisia và ở khu vực châu Phi hạ Sahara ? Trong phần mở đầu cuốn Les Africains dans la guerre d’Indochine 1947-1954 – Những người lính Phi châu trong chiến tranh Đông Dương 1947-1954, NXB L’Harmattan, Michel Bodin đã phân biệt các quân nhân ở vùng Bắc Phi – Maghreb (Maroc, Algeri, Tunisia) với khu vực phía nam Sahara (Senegal, Mauritanie, Guinée, Côte d’Ivoire..) và ông nhắc lại : « Ngày 01/02/1954 lính châu Phi trong hàng ngũ Lực Lượng Viễn Chinh Pháp chiếm 43,5 % lục quân, không kể những người lính bản địa (…) Từ năm 1947 trở đi, châu Phi lại đóng vai trò là một nguồn cung cấp nhân sự cho quân đội Pháp trong chiến tranh (…) trong giai đoạn 1947-1954, 122.900 lính Bắc Phi và 60.340 quân nhân thuộc ở phía nam sa mạc Sahara đã đổ bộ lên Đông Dương » (tr. 5 -6). Thành lập một lực lượng bảo vệ một vùng thuộc địa xa xôi đặt ra rất nhiều vấn đề, mà đứng đầu là về mặt nhân sự Năm 1945, kinh tế Pháp kiệt quệ sau Đệ Nhị Thế Chiến. Toàn cảnh địa chính trị thế giới lại buộc Paris tăng cường khả năng phòng thủ tại Châu Âu trong bối cảnh chiến tranh lạnh, Paris muốn bảo vệ quyền lợi của Pháp tại các vùng thuộc địa châu Phi và chinh phục lại Đông Dương. Trong hoàn cảnh đó thành lập một lực lượng bảo vệ một vùng thuộc địa xa xôi đặt ra rất nhiều vấn đề, mà đứng đầu là về mặt nhân sự. Huy động nhân lực từ các vùng thuộc địa châu Phi là một giải pháp hiển nhiên, nhưng không dễ thực hiện. Sử gia Michel Bodin giải thích : Michel Bodin : « Ý tưởng huy động lính Phi châu sang Đông Dương đã nhen nhúm từ năm 1868 nhưng rồi đã nhanh chóng bị lãng quên. Phải đợi đến đầu thế kỷ 20 mới được nhắc đến trở lại do Pháp thiếu người. Trong những kế hoạch đầu tiên thành lập Lực Lượng Viễn Chinh giải phóng Đông Dương khỏi gọng kềm của Nhật, Paris đã tính đến khả năng tuyển mộ từ 20.000 đến 25.0000 lính Phi châu nhưng rồi năm 1945 tướng Leclerc, cố vấn của De Gaulle, đã từ bỏ kế hoạch này, tránh để gây hiềm khích với Mỹ bởi vì Washington vốn chống đối chính sách thuộc địa của Pháp. Năm 1946, quân đội Pháp thực sự không đủ nguồn nhân lực và nhiều tướng lĩnh ý thức được là cần phải huy động lính châu Phi. Họ nghĩ rằng người Phi châu dễ thích nghi với khí hậu nóng của Đông Dương và đó cũng là thời điểm Pháp quyết định điều lính Phi châu sang Đông Dương, sau rất nhiều tranh cãi gay gắt trên chính trường (…). Chung cuộc, năm 1947, lính châu Phi bắt đầu hiện diện ở Đông Dương và số này khi đó chiếm 0,7 % Lực Lượng Viễn Chinh. Đến năm 1954 tỷ lệ đó được nâng lên thành 16 % ».   Một công đôi việc Dù thận trọng ban đầu nhưng chính phủ Pháp rốt cuộc đã chóng nhận thấy rằng ngoài việc giải tỏa áp lực về mặt nhân sự, huy động lính châu Phi sang Đông Dương có thêm hai ưu điểm khác. Một là công luận Pháp « có mấy ai quan tâm đến những người lính châu Phi (…) tử trận hay bị thương ? Lợi thế thứ hai là lương, tiền thưởng hay phụ cấp trả cho lính châu Phi thấp hơn » so với những khoản phải chi cho lính Pháp (tr. 231). Về phần những người lính châu Phi, Đông Dương là một ẩn số trên nhiều phương diện, nhất là đối với những người lính bộ binh, mà trong ngôn ngữ hàng ngày họ được gọi là « lính Senegal » nhưng thực sự bao hàm cả các chiến binh tại các vùng thuộc địa của Pháp ở phía nam sa mạc Sahara, nhà sử học Michel Bodin ghi nhận những va chạm về văn hóa, những xa lạ về điều kiện thổ nhưỡng của họ với Đông Dương : Michel Bodin : « Chủ yếu những người lính châu Phi từ vùng hạ Sahara là các vùng có khí hậu nóng và khô. Họ hoàn toàn bỡ ngỡ với khí hậu nóng và ẩm, với các vùng đầm lầy, với nhiều sông ngòi ở Đông Dương. Nhiều người lính bị chết đuối. Họ cũng rất sợ những vùng rừng thiêng nước độc. Nói cách khác, lính châu Phi ở phía nam sa mạc Sahara không dễ thích nghi với môi trường Đông Dương. Về tiếp xúc với người dân bản xứ, đương nhiên ban đầu người Việt rất sợ lính Tây đen rạch mặt. Thêm vào đó là cả chiến dịch tuyên truyền của Việt Minh về sự hung dữ, tàn bạo của những người lính châu Phi, về những vụ hãm hiếp … Dù vậy tùy thời kỳ và tùy nơi, đôi khi quan hệ không đến nỗi tệ : trong mắt những người lính châu Phi đây là nơi dễ tìm được gái đẹp, còn người dân bản xứ thì cho rằng lính Tây đen có phần ngờ nghệch, dễ đánh lừa. Trên thực tế, có nhiều va chạm, khi thì vì tình, lúc thì do xung khắc với dân buôn bán ngoài đường, ngoài chợ. Những va chạm đó có khi dẫn đến bạo lực, đổ máu. Tuy nhiên quan hệ giữa lính châu Phi với dân bản địa thay đổi tùy theo diễn biến của chiến tranh, tùy theo từng vùng miền. Tại những vùng yên ắng mọi việc êm thắm hơn. Ngược lại tại những điểm có giao tranh, quan hệ giữa những người lính và dân cư địa phương gay gắt hơn nhiều ».   Vẫn theo tác giả cuốn Những người lính Phi châu trong chiến tranh Đông Dương 1947-1954, tương tự như đối với những người lính Pháp được điều sang Đông Dương, do thời gian đào tạo quá hạn hẹp cả về khả năng chiến đấu đến cách đối phó với « chiến tranh cách mạng » của Việt Minh cho nên đôi khi hiệu quả của những người lính da đen này không được như cấp chỉ huy của họ mong đợi :  Michel Bodin : « Đó là cả một vấn đề : những người lính này - cũng như phần lớn các quân nhân trong Lực Lượng Viễn Chinh, thường không được huấn luyện trước, không được chuẩn bị để đương đầu với chiến tranh cách mạng. Lính Phi châu thường vụng về trong việc tháo gỡ mìn, thường bất cẩn trong việc dò mìn và khi có giao tranh họ tàn nhẫn với đối phương, với dân bản xứ. Nhưng khi được trang bị đầy đủ vũ khí, với sự yểm trợ của pháo binh, thì những người lính châu Phi hạ Sahara chiến đấu rất tốt (…) Trong trận Điện Biên Phủ lính châu Phi chiến đấu đến cùng, bất chấp tất cả những khó khăn như đã biết.»  Vừa thiếu người, thiếu phương tiện tài chính nhưng Pháp vẫn muốn chinh phục lại Đông Dương.Phương tiện « nghèo nàn » Vấn đề cốt lõi là cho đến tận trước năm 1950 là « khó khăn kinh tế của Pháp giải thích (…) cho những phương tiện nghèo nàn của Lực Lượng Viễn Chinh » (tr. 232). Vừa thiếu người, thiếu phương tiện tài chính nhưng Pháp vẫn muốn chinh phục lại Đông Dương. Trong hoàn cảnh đó những người lính Đông Dương đã phải « đối mặt với những chiến dịch đầy gian nan và trong những hoàn cảnh tệ hại nhất ». (M. Bodin, La France et ses soldats, Indochine, 1945-1954 – Pháp và những người lính, Đông Dương, 1945-1954 - NBX L’Harmattan, tr. 277-278).  Dù vậy trái với chờ đợi, tài liệu lưu trữ của bên Quân đội cho thấy, những người lính thuộc địa châu Phi - nhất là trong khu vực hạ Sahara - đã luôn trung thành với quân đội Pháp. 90% lính châu Phi là nông dân và có đến 85 % không biết đọc biết viết tiếng Pháp có thể là giải thích phần nào thất bại trong chính sách tuyên truyền của Việt Minh : Michel Bodin : « Chiến dịch tuyên truyền của Việt Minh khơi dậy tinh thần chống Pháp, chống chủ nghĩa đế quốc… phần lớn nằm ngoài những suy nghĩ của những người lính Bắc Phi cũng như ở phía nam sa mạc Sahara. Tác dụng của chúng rất thấp. Thậm chí những tù binh từng bị nhồi sọ trong nhiều tháng và có khi là cả nhiều năm trong những trại của Việt Minh, khi được trả tự do họ chỉ có một ý tưởng trong đầu : lại cầm súng chiến đấu để phục thù, bởi vì họ bị chiêu dụ, rồi bị ngược đãi. Trong công tác tư tưởng, cán bộ Việt Minh không có thói quen thuyết phục các đối tượng Phi châu và cũng không có thông dịch viên từ tiếng Việt sang tiếng Bambara (phổ thông tại Tây Phi) hay tiếng Wolof (thông dụng tại Senegal và Mauritanie) thành thử có truyền khẩu hay rải truyền đơn tuyên truyền cũng vô ích nhất là gần như hầu hết lính châu Phi mù chữ và lại càng không biết đọc tiếng Pháp. Chiến dịch tuyên truyền của Việt Minh với mục đích vừa chiêu dụ quân thù đào ngũ, vừa làm khuynh đảo chính sách thực dân của Pháp ở châu Phi không có hiệu quả. Cuối cùng thì những lính châu Phi vẫn trung thành với phía Pháp ».   Ở chương cuối cùng, phần thứ ba cuốn Châu Phi trong chiến tranh Đông Dương 1947-1954, tác giả nêu lên câu hỏi « chiến tranh dù muốn hay không cũng làm thay đổi con người, thay đổi lối suy nghĩ hay cách tiếp cận của họ với môi trường chung quanh và đôi khi làm nảy sinh những ý tưởng mới. Đông Dương (…) liệu có góp phần biến đổi các chiến binh hay không ? Đây là một câu hỏi quan trọng » (tr. 229) khi nhìn vào phong trào phi thực dân hóa tại châu Phi sau này. Michel Bodin thận trọng đưa ra nhiều dẫn chứng trước khi kết luận : Trong trường hợp cụ thể tại Algeri, « chiến tranh (Đông Dương) làm suy yếu quân đội Pháp và hình ảnh của nước Pháp »  chứ đấy « không hẳn là do tác động của chiến dịch tuyên truyền Việt Minh ». ***** * Sách và tài liệu tham khảo : - La France et ses soldats, Indochine, 1945-1954 – Pháp và những người lính, Đông Dương, 1945-1954 - NBX L’Harmattan (1996). - Soldats d’Indochine 1945-1954 – Lính Đông Dương 1945-1954 - NBX L’Harmattan (1997). - Les Combattants français face à la guerre d’Indochine 1945-1954 – Các chiến binh Pháp đối mặt với chiến tranh Đông Dương -1945-1954, NBX L’Harmattan (1998). - Les Africains dans la guerre d’Indochine 1947-1954 – Lính châu Phi trong chiến tranh Đông Dương 1947-1954, NBX L’Harmattan (2000). - Le Corps Expéditionnaire Français en Indochine, 1945-1954, le soldat des forces terrestres – Lực Lượng Viễn Chinh Pháp tại Đông Dương, 1945-1954, lính bộ binh (Luận án tiến sĩ đại học Paris I-Panthéon-Sorbonne, 1991).
    9/4/2021
    9:46
  • Tạp chí đặc biệt - Tình báo Việt Minh trong chiến tranh Đông Dương qua tài liệu của quân đội Pháp
    Tình báo Việt Minh là một « mạng lưới tinh vi », được « tổ chức chặt chẽ », đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng « theo khuôn mẫu của Liên Xô và Trung Quốc ». Một số tài liệu được giải mật của quân đội Pháp trong chiến tranh Đông Dương cho phép nhà sử học Michel Bodin kết luận như trên trong bài nghiên cứu Les services de renseignements Viet Minh (1945-1954) - Các cơ quan tình báo của Việt Minh (1945-1954) đăng trên tạp chí quân sự Guerres Mondiales et Conflits Contemporains - số 191/1998. Theo các tài liệu của viện lưu trữ Ban Sử Học Lục Quân của Pháp (SHAT), Trung Quốc đã giúp Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thành lập một lực lượng quân đội hiện đại và ngay cả trong ngành tình báo cũng đã có sự can thiệp của nước láng giềng sát cạnh phương bắc của Việt Nam. Trong mắt những người lính thuộc Lực Lượng Viễn Chinh của Pháp, tình báo Việt Minh đã trở thành một vũ khí « rất lợi hại ». Là một trong những nhà nghiên cứu Pháp hiếm hoi quan tâm đến tình báo Việt Minh, phân tích tài liệu của bên quân đội, Michel Bodin đã trình bày cặn kẽ về « cách tổ chức, cơ cấu và phương thức hoạt động » của ngành tình báo Việt Minh. Trở lại với chương trình Việt ngữ RFI ông phân tích về sự hình thành, về lôgic và những chuyển biến cũng như về hiệu quả với kết cuộc mà chúng ta đã biết của mạng lưới tình báo Việt Nam trong giai đoạn chiến tranh Đông Dương 1945-1954.   Công luận Pháp không quan tâm đến Đông Dương. RFI : Kính chào Michel Bodin, RFI tiếng Việt rất hân hạnh lại được tiếp chuyện với giáo sư. Sách vở và các bài nghiên cứu nói về ngành tình báo Pháp trong chiến tranh Đông Dương thì nhiều, nhưng hiếm thấy những bài viết về ngành tình báo của Việt Nam. Vì sao vậy thưa ông ?   Michel Bodin : « Lý do đầu tiên là vấn đề Đông Dương rất phức tạp và các nhà nghiên cứu căn cứ vào những tài liệu gián tiếp được ban sử học quân đội lưu trữ. Đó là những tài liệu tịch thu được trong các chiến dịch quân sự, là những báo cáo của các trưởng đồn, hay báo cáo từ các cuộc hỏi cung. Trên thực thế có rất ít những nhân chứng trực tiếp. Lý do thứ nhì là công luận Pháp không quan tâm đến Đông Dương và trong ký ức, thì chiến tranh Algeri đã nhanh chóng chôn vùi cuộc chiến Đông Dương. Sau chiến tranh Đông Dương thì những hình ảnh trong cuộc chiến chống Mỹ của Việt Nam gây nhiều ấn tượng hơn. Cuối cùng phải mất một thời gian dài các kho lưu trữ liên quan đến chủ đề này mới được mở ra cho công chúng. Đừng quên rằng trong ngành ‘tình báo, mật vụ’ sẽ có những điều ‘bí mật’ không bao giờ được tiết lộ cho công chúng ».  RFI : Ngoài những khó khăn liên quan đến khả năng tiếp cận với tài liệu lưu trữ bên quân đội – cần nhắc lại là đến nay mới chỉ có một số đã được giải mật, tuy nhiên với những tài liệu đã được phổ biến thì ngành tình báo của Việt Minh đã được tổ chức như thế nào và đã hoạt động ra sao ?   Mỗi người dân đều phải là tai mắt của Việt Minh. Michel Bodin : « Chiến tranh bên Việt Minh phát động là một cuộc chiến toàn diện. Điều đó có nghĩa là tất cả mọi khía cạnh, từ mặt quân sự đến xã hội, tâm lý … đều phải được quân đội nhân dân nắm rõ. Điểm thứ nhì cuộc chiến này phải huy động được toàn dân, có nghĩa là tất cả mọi người đều có thể bị quân đội nhân dân huy động. Đó là một tổng thể chung. Về cơ bản, mật vụ hoạt động theo ba nguyên tắc : thu tập thông tin tình báo, phân tích - khai thác những thông tin đó và công tác phản gián.  Đây là những tổ chức vô cùng phức tạp với rất nhiều thay đổi theo thời gian. Điều bất di bất dịch duy nhất là tất cả phải được đặt dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản.   Kể từ sau năm 1950 mạng lưới tình báo Việt Minh bao gồm 6 ngành, chúng hoạt động một cách bổ sung cho lẫn nhau. Trước hết, bên Tình Báo hoạt động cả tại Việt Nam lẫn tại Pháp. Nhân viên tổ tình báo này có liên lạc với khối Đông Âu và cũng rất có thể là cả với một tổ chức bí mật của đảng Cộng Sản Pháp. Thứ nhì là Quân Báo chỉ hoạt động tại Việt Nam và được đặt dưới sự chỉ huy của tướng Võ Nguyên Giáp. Nhóm thứ ba được biết đến là bên Trinh Sát với sứ mệnh thăm dò và thu thập những thông tin cần thiết để chuẩn bị cho các trận hành quân. Trong toán thứ tư công việc quan sát được giao phó cho dân, đúng theo tinh thần huy động toàn dân vào một cuộc chiến. Mỗi người dân đều là tai, mắt của Việt Minh và của quân đội nhân dân Việt Nam để theo dõi phía Pháp, theo dõi những người có lui tới và có quan hệ với Pháp, với những cộng tác viên của quân đội Pháp. Tổ chức thứ năm là bên Công An với nhiệm vụ là kiểm soát dân tình và trừ khử những kẻ phản bội. Sau cùng, Phòng Địch Vận thuộc về mảng chiến tranh tâm lý với mục đích vận động, tuyên truyền kêu gọi địch đào ngũ. Để đạt được hiệu quả, thì bên Địch Vận phải có những thông tin chính xác về những đối tượng nhắm tới do vậy, bản thân tổ chức này cũng có những bộ phận riêng đặc trách về tình báo, về công tác phân tích thông tin và các hoạt động phản gián ».  RFI : Trong bài viết đăng trên tạp chí quân sự Guerres Mondiales et Conflits Contemporains năm 1998 giáo sư trích dẫn rất nhiều những trường hợp cụ thể về hoạt động, về nhiệm vụ của các toán, các tổ tình báo. Chẳng hạn như « Đại đội 198 ở Hải Phòng có trọng trách theo dõi các hoạt động trên cảng và tại các khu lân cận (…) như theo dõi trại lính Bouet, hay căn cứ BOTK ». Có những nhóm được phân công với một nhiệm vụ cụ thể như là đếm xem bên địch có bao nhiêu xe bọc thép, có bao nhiêu khẩu đại bác, kích cỡ là bao nhiêu … Ngành tình báo của Việt Minh ban đầu hoạt động một cách thô sơ nhưng càng lúc càng bài bản hơn phải chăng là để đáp ứng với nhu cầu quân sự càng lúc càng thúc bách ?   Michel Bodin : « Để đáp ứng hai nhu cầu một là về mặt quân sự và hai là chủ đích huy động toàn dân. Đây chính là nguyên tắc của chiến tranh nhân dân mà ở đó mọi người đều phải tích cực tham gia tùy theo hoàn cảnh và khả năng. Nguyên tắc ấy có nhiều lợi thế : một là có nhiều nguồn tin để bảo đảm rằng không một thông tin nào bị bỏ sót, thứ hai nữa là đảng Cộng Sản Việt Nam qua đó có thể kiểm soát được toàn dân. Chính nhờ mạng lưới tình báo tinh vi này mà năm 1951 bên Việt Minh phá vỡ được chiến dịch Tourbillon của quân đội Pháp (Long Xuyên, Đồng Tháp Mười năm 1951). Mạng lưới tình báo của Việt Minh đã lập những thành tích rõ rệt nhưng bên cạnh đó thì cũng có một số thất bại chẳng hạn như trong trận đánh ở Nà Sản (1952) bộ phận trinh sát của Việt Nam không lường trước được là phía Pháp huy động đội ngũ lê dương yểm trợ cho chiến dịch này. Nà Sản là một thất bại ê chề đối với phía Việt Minh ».  Trong mắt những người lính Đông Dương tình báo Việt Minh là một vũ khí rất lợi hại. RFI : Trong bài viết ông đã nêu lên những thí dụ rất cụ thể cho thấy hoạt động trong ngành tình báo Việt Nam từ khi hình thành đã có nhiều chuyển biến tùy theo thời gian. Mạng lưới lưới này lại được tổ chức rất chặt chẽ với nguyên tắc các tổ hoạt động một cách biệt lập với tránh để ‘bị lộ’. Tuy nhiên ở đây đặt ra vấn đề là các toán điệp viên, tình báo đó đôi khi dẫm chân lên lẫn nhau. Một điểm khác nữa là do quá tỉ mỉ trong việc khâu thu thập thông tin nhưng liệu rằng mức độ hiệu quả có bị ảnh hướng vì những thủ tục rườm ra, vì cỗ máy quá cồng kềnh đó hay không ?   Michel Bodin : « Đương nhiên. Nhưng ngoài ra còn có một yếu tố khác nữa đó là tất cả nhân viên tình báo Việt Minh không được đào tạo. Họ có thể đếm số xe tải đi qua, xe có bao nhiêu bánh … Nhưng phía Việt Nam thiếu các nhà phân tích những dữ liệu thu thập được do vậy Việt Minh cũng đã phải đối mặt với nhiều thất bại. Đó là sự hạn chế trong tổ chức tình báo của phía Việt Nam. Ngành tình báo của Việt Minh là một tổ chức rất thứ tự lớp lang, với cấu trúc chặt chẽ, tỉ mỉ và luôn dựa trên nguyên tắc chiến tranh nhân dân tức là với sự tham gia của mọi người dân, của mọi nhà. Số đông đó vừa là một lợi thế, nhưng cũng là cũng là một nhược điểm. Mô hình hoạt động của ngành tình báo Việt Minh đi theo phương pháp của Liên Xô và Trung Quốc có nghĩa là tất cả phải được đặt dưới sự chỉ huy của đảng Cộng Sản. Chung cuộc thì mô hình đó đã đem lại chiến thắng và đã cho phép Việt Nam xây dựng xã hội chủ nghĩa ».  RFI : Xin chân thành cảm ơn giáo sư Michel Bodin, chuyên gia về lịch sử quân sự chiến tranh Đông Dương. Ông là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu về Lực Lượng Viễn Chinh Đông Dương. Trong chương trình kỳ tới, chúng ta sẽ cùng đề cập đến số phận những người lính từ những vùng thuộc địa ở Châu Phi mà Pháp đã huy động sang Đông Dương để chinh phục trở lại và duy trì ảnh hưởng ở Viễn Đông.
    8/28/2021
    9:41

About TẠP CHÍ ĐẶC BIỆT

Station website

Listen to TẠP CHÍ ĐẶC BIỆT, TẠP CHÍ ÂM NHẠC and Many Other Stations from Around the World with the radio.net App

TẠP CHÍ ĐẶC BIỆT

TẠP CHÍ ĐẶC BIỆT

Download now for free and listen to radio & podcasts easily.

Google Play StoreApp Store

TẠP CHÍ ĐẶC BIỆT: Podcasts in Family

TẠP CHÍ ĐẶC BIỆT: Stations in Family

Information

Due to restrictions of your browser, it is not possible to directly play this station on our website.

You can however play the station here in our radio.net Popup-Player.

Radio