Radio Logo
RND
Listen to {param} in the App
Listen to TẠP CHÍ KINH TẾ in the App
(171,489)
Save favourites
Alarm
Sleep timer
Save favourites
Alarm
Sleep timer
HomePodcasts
TẠP CHÍ KINH TẾ

TẠP CHÍ KINH TẾ

Podcast TẠP CHÍ KINH TẾ
Podcast TẠP CHÍ KINH TẾ

TẠP CHÍ KINH TẾ

add

Available Episodes

5 of 24
  • Tạp chí kinh tế - Giải mã hợp đồng tàu ngầm Pháp-Úc
    Pháp vẫn chưa nguôi vì vụ bị Mỹ « phỗng tay trên » hợp đồng 56 tỷ euro bán tàu ngầm cho Úc. Canberra ra sức biện minh cho việc đột ngột hủy hợp đồng với Paris. Xét về khía cạnh « được » « thua » thực chất hợp đồng tàu ngầm Pháp-Úc gồm những gì và thiệt hại về tài chính, kinh tế có lớn đến nỗi để Paris lao vào một cuộc đọ sức ngoại giao với cùng lúc cả ba đối tác chiến lược là Hoa Kỳ, Úc và Anh ? Từ đầu vụ mà truyền thông gọi là « khủng hoảng tàu ngầm » hôm 15/09/2021 bộ trưởng Kinh Tế và Tài Chính Pháp Bruno Le Maire hoàn toàn im lặng. Chỉ thấy ngoại trưởng Jean-Yves Le Drian và bộ trưởng Quân Lực Florence Parly lên tuyến đầu. Chưa hợp đã tan Năm năm trước, ngày 26/04/2016 cũng ông Le Drian ở cương vị bộ trưởng Quốc Phòng dưới thời tổng thống François Hollande chứng kiến lễ ký kết « hợp đồng thế kỷ » : tập đoàn đóng tàu của Pháp Naval Group, khi đó mang tên DCNS, qua mặt các đối thủ Đức và Nhật giành được hợp đồng của bộ Quốc Phòng Úc để cung cấp 12 tàu ngầm quy ước Attack. Đây là phiên bản từ tàu ngầm nguyên tử đời mới Barracuda của Pháp. Trị giá hợp đồng ban đầu quy định 50 tỷ đô la Úc. Toàn bộ khâu sản xuất dự trù khởi động năm 2023 và các nhà máy đặt tại Úc. Chiếc Attack đầu tiên sẽ được giao vào năm 2030. Nhưng chỉ bốn tháng sau ngày thông báo Paris và Canberra bước vào giai đoạn « độc quyền đàm phán », những dấu hiệu khủng hoảng niềm tin đã bắt đầu ló rạng : tờ báo uy tín của Úc The Australian tiết lộ Naval Group bị tấn công tin học, mất nhiều « thông tin mật » liên quan đến tàu ngầm lớp Scorpène bán cho Ấn Độ. Vụ rò rỉ thông tin nói trên không liên quan gì đến hợp đồng với Úc và cũng không nhắm vào những « tài liệu bí mật » như báo The Austalian loan báo, nhưng cũng đủ khiến Canberra lo ngại. Dù vậy, điều đó không cấm cản Pháp, Úc tiếp tục hợp tác. Tháng 2/2019, sau 18 tháng đàm phán gay go, Naval Group và bộ Quốc Phòng Úc thông báo « ván đã đóng thuyền », cho dù nhiều mối nghi kỵ vẫn chưa được xua tan. Naval Group liên tục bị tấn công và chính những đòn tấn công đó là cái cớ để thủ tướng Morrison thông báo hủy hợp đồng với Pháp. Pháp bị chỉ trích những gì và những lập luận đó có cơ sở hay không ? Điểm thứ nhất, Canberra trách tập đoàn Naval Group « đội giá » : theo thỏa thuận ban đầu hợp đồng trị giá 50 tỷ đô la Úc, nhưng 18 tháng sau, giá thành lên tới 90 tỷ đô la Úc (56 tỷ euro). Điểm thứ nhì, theo quan điểm của Canberra, là Pháp « chơi xấu » không chịu chuyển giao « công nghệ » và điểm thứ ba là hợp đồng không có lợi cho người lao động Úc và sau cùng là « một sự chậm trễ » trong lịch giao hàng. Truyền thông Pháp ít có bài giải thích về chênh lệnh đến 40 tỷ đô la Úc so với hợp đồng ban đầu, nhưng lập tức đáp trả báo chí Úc: không thể chỉ trích Pháp giao hàng trễ, khi mà đôi bên chưa bắt tay vào việc đóng tàu. Làm thế nào giải thích rằng hợp đồng với Pháp bất lợi cho người lao động Úc, khi mà « hợp đồng thế kỷ » chỉ liên quan đến 500 nhân viên của Naval Group, và gần như toàn bộ khâu sản xuất đều tập trung cả ở Adelaide, trên lãnh thổ Úc ? Chủ tịch tổng giám đốc Naval Group tháng 2/2021 xác nhận 60 % các hoạt động của toàn bộ dự án Attack sẽ do « các tập đoàn của Úc đảm nhiệm ». Do vậy trả lời RFI việt ngữ, chuyên gia về châu Á, Antoine Bondaz thuộc Quỹ Nghiên Cứu Chiến Lược, đánh giá kinh tế không là những giải thích thỏa đáng để hủy hợp đồng. Thực chất khủng hoảng ngoại giao giữa Pháp và liên minh AUKUS « nằm ở chỗ khác » :   « Điều quan trọng nhất là động lực nào đã thúc đẩy Úc hủy hợp đồng và chuyển hướng sang Hoa Kỳ. Nhu cầu của Canberra không thay đổi. Điểm mới ở đây là quyết tâm của chính phủ Úc xích lại gần với Mỹ và đẩy mạnh liên minh với Washington. Úc cần tăng cường an ninh, trước mối đe dọa Trung Quốc. Đấy mới chính là cốt lõi của vấn đề chứ không chỉ là một là chuyện liên quan đến hợp đồng mua bán tàu ngầm. Tuy nhiên, trong những ngày qua, mọi chú ý lại tập trung vào hồ sơ tàu ngầm, cho dù đây chỉ là một yếu tố trong số rất nhiều những yếu tố khác của liên minh quân sự Anh, Mỹ và Úc ».  Canberra tìm cách chống chế Thêm một lý do khác cho thấy yếu tố kinh tế chỉ là cái cớ để Canberra biện minh cho quyết định chuyển hướng về Hoa Kỳ, Antoine Bondaz nói thêm : « Trong nhiều ngày liên tiếp, thủ tướng Scott Morrison chỉ trích Paris về các khía cạnh chuyển giao công nghệ, giao hàng trễ và hợp đồng với Pháp không tạo nhiều việc làm trên lãnh thổ Úc. Nhưng tới nay, không có gì bảo đảm là Canberra sẽ được toại nguyện trên tất cả những điểm này với nhà cung cấp mới là Mỹ. Cũng không có gì bảo đảm là Hoa Kỳ sẽ cung cấp tàu ngầm cho Úc sớm hơn. Canberra cũng không được bảo đảm là những hợp đồng mới với Mỹ có lợi hơn cho người lao động Úc. Rõ ràng, ở đây, những lập luận ‘được’ hay ‘thua’ về mặt kinh tế không phải là cốt lõi của vấn đề. Đây cũng không hẳn là một cuộc tranh cãi để lấy phiếu của cử tri trong nước. Liên minh với Anh, Mỹ thuần túy là một vấn đề an ninh và chiến lược. Úc thể hiện rõ ràng quyết tâm càng neo chặt vào Mỹ và đây là mối liên minh chặt chẽ hơn trước rất nhiều.  Tàu ngầm quy ước hay hạt nhân ? Sau cuộc họp báo chung với Anh và Mỹ hôm 15/09/2021, Úc thông báo ngưng hợp đồng với Pháp, vì nhu cầu đã thay đổi và chuyển sang dùng tàu ngầm sử dụng năng lượng nguyên tử, thay vì tàu ngầm quy ước, chạy bằng dầu diesel như trong giao kèo với Pháp. Pháp là một trong sáu quốc gia trên thế giới có tàu ngầm nguyên tử, làm chủ công nghệ đóng tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân. Đối với Naval Group, cung cấp tàu ngầm nguyên tử cho Úc không phải là điều bất khả thi. Vấn đề còn lại là công luận Úc không mặn mà với năng lượng hạt nhân và Canberra từ khi bắt đầu đàm phán trang bị tàu ngầm đã nhắm tới lớp Barracuda, nhưng dùng năng lượng điện và diesel và do đó sản phẩm sẽ là 12 chiếc Attack. Antoine Bondaz, Quỹ Nghiên Cứu Chiến Lược lưu ý : « Tình thế đã được đảo ngược do Mỹ lần đầu tiên từ năm 1958 đồng ý chia sẻ một phần công nghệ tàu ngầm chạy bằng năng lượng nguyên tử. Anh là quốc gia duy nhất hưởng ưu đãi đó. Cần nhấn mạnh rằng, với Pháp, Úc chưa  từng đề cập đến nhu cầu trang bị tàu ngầm nguyên tử. Khi đôi bên bắt đầu đàm phán vào năm 2014, Canberra nhắm vào tàu ngầm quy ước của Pháp và do vậy, chính Paris đã phải điều chỉnh lớp tàu nguyên tử đời mới thành tàu ngầm chạy bằng dầu diesel để đáp ứng đòi hỏi của Úc.  Thêm vào đó, chưa chắc Úc đã có lợi trong hợp đồng với Hoa Kỳ, nếu chỉ đơn thuần dựa vào các yếu tố kinh tế. Chuyên gia Pháp Jean Pierre Maulny, Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS, ghi nhận hãy còn 1001 trở ngại mà Canberra sẽ phải vượt qua từ nay cho tới khi nhận được những chiếc tàu ngầm nguyên tử đầu tiên « made in USA ». Trở ngại đầu tiên là phải giải quyết vấn đề năng lượng hạt nhân. Kế tới là các loại tàu ngầm đang hiện hành ở Anh và Mỹ có trọng lượng 7000 tấn, trong lúc đó thì Úc cần loại tàu cỡ nhỏ hơn –dưới 5.000 tấn. Ông Maulny không mấy tin rằng Hoa Kỳ sẽ nhanh chóng thiết kế một loại tàu « sur mesure » cho Hải Quân Úc. Cũng chuyên gia này cầm chắc rằng giá thành của Anh, Mỹ, sẽ không thấp hơn so với của Pháp. Sau cùng, không có gì bảo đảm là chuyển hướng sang Hoa Kỳ và Anh Quốc, Úc sớm có thể thay thế những chiếc tàu ngầm cổ lỗ lớp Collins. Nói tóm lại, tất cả những lập luận về « kinh tế » được Canberra đưa ra để biện minh cho việc hủy hợp đồng với Pháp không mấy thuyết phục.    Tàu ngầm chỉ là phần nổi của tảng băng Về phía Pháp, báo chí nói nhiều đến cuộc « khủng hoảng tàu ngầm », nhưng giới phân tích đồng loạt cho rằng, vụ bị mất hợp đồng với Úc chỉ là « bề nổi của tảng băng » : Bị khách hàng Úc bỏ rơi tuy là một vố đau cả về tài chính, lẫn uy tín đối với tập đoàn đóng tàu Naval Group, nhưng sự tồn tại của ông khổng lồ trong ngành đóng tàu và công nghiệp quân sự này của Pháp không hề bị đe dọa. Giới trong ngành đánh giá « hậu quả về mặt công nghiệp đối với phía Pháp không nhiều, bởi dự án chỉ mới ở giai đoạn đầu ». Công việc làm của nhân viên Naval Group cũng không bị ảnh hưởng, bởi dự án với Úc chỉ liên quan tới 500 trong số 16.000 nhân viên hiện diện tại 18 quốc gia trên thế giới. Hơn nữa, cho dù hợp đồng có bị hủy giữa chừng, đôi bên đều chuẩn bị để đối phó với tình huống này và đã dự trù những khoản đền bù thiệt hại. Báo Anh, Mỹ nêu lên khoản bồi thường từ 250 triệu đến 400 triệu đô la Mỹ mà phía Úc sẽ phải chi ra. Vậy câu hỏi kế tiếp là tại sao Paris đã lớn tiếng làm khuấy động quan hệ ngoại giao với các đồng minh truyền thống phương Tây ? Gáo nước lạnh cho « giải pháp thứ ba » Nhà nghiên cứu Céline Pajon, Viện Quan Hệ Quốc Tế Pháp IFRI, giải thích, hợp đồng tàu ngầm Pháp-Úc rất phức tạp. Năm 2016, Úc đồng ý mua 12 tàu ngầm Attack. Ba năm sau đó, Paris và Canberra ký một hợp đồng thứ nhì mang tính « đối tác chiến lược », là nền tảng cho hợp tác song phương « trong giai đoạn 50 năm sau đó ». Chính văn bản này cho phép nước Pháp « hoạch định chiến lược lâu dài tại Ấn Độ -Thái Bình Dương ». Các nhà địa chính trị của Pháp giải thích rõ hơn : Trong một thế giới càng lúc càng bị chia rẽ giữa một bên là Trung Quốc và bên kia là Hoa Kỳ, Pháp từ lâu nay luôn chủ trương một hướng đi thứ ba, « độc lập cả về mặt chính trị, kinh tế, chiến lược và công nghệ » với Bắc Kinh và Washington. Canberra là một trong những đối tác có trọng lượng và Paris đã dùng lá bài « tàu ngầm » để thuyết phục Úc thiên về giải pháp « độc lập » đó với Mỹ và Trung Quốc. Liên minh AUKUS là một gáo nước lạnh mà Hoa Kỳ lẫn Úc dội vào sáng kiến « giải pháp thứ ba » đó của Paris. Câu hỏi còn lại là Paris phải làm gì trong giai đoạn tiếp theo, Antoine Bondaz, Quỹ Nghiên Cứu Chiến Lược của Pháp, trả lời : « Quyền lợi của Pháp trong vùng Ấn Độ -Thái bình Dương không thay đổi. Đó là những lợi ích về mặt chủ quyền và trong trường hợp đó, Úc là một đối tác khu vực không thể bỏ qua. Được hay mất hợp đồng tàu ngầm không làm thay đổi cục diện về mặt địa lý. Thực tế cho thấy rằng hiện có 1,7 triệu công dân Pháp đang sinh sống trong các vùng lãnh thổ hải ngoại, từ Mayotte đến quần đảo Polynésie, từ đảo Réunion đến Nouvelle Calédonie. Các vùng đặc quyền kinh tế của Pháp (ZEE) trong khu vực này chiếm đến ¾ toàn thể diện tích các vùng đặc quyền kinh tế của Pháp và đây cũng là nơi có 7.000 lính Pháp thường trực. Về lợi ích kinh tế, một phần ba giao thương của Pháp với các đối tác ngoài khu vực Liên Hiệp Châu Âu nằm trong vùng châu Á Thái Bình Dương. Đây là khu vực năng động nhất cả về kinh tế lẫn thương mại, nhưng cũng là nơi có nhiều căng thẳng, nhất là căng thẳng về mặt quân sự. Do vậy, Pháp bắt buộc phải bảo vệ những lợi ích của mình và Paris cần phải được bảo đàm rằng, có thể can thiệp trong trường hợp cần thiết ». Hiệu ứng domino Một số nhà phân tích khác lo ngại việc Úc hủy hợp đồng quân sự với Pháp tạo tiền đề cho các các quốc gia khác noi theo. Pháp là một trong 5 nguồn cung cấp vũ khí hàng đầu thế giới. Liên minh AUKUS cho thấy không dễ mà cưỡng lại những áp lực của Hoa Kỳ. Ấn Độ là khách hàng mua chiến đấu cơ Rafale của Pháp, đồng thời là một trong bốn tứ trụ của nhóm Quad. Tại châu Âu, giám đốc đặc trách về nghiên cứu an ninh của Viện Quan hệ Quốc Tế Pháp Elie Tenenbaum không loại trừ khả năng một số thành viên, mà đứng đầu là Đức, cũng có thể quay lưng lại với Pháp để mua vũ khí của Hoa Kỳ, bởi « Đức và Pháp tuy là hai đầu tàu kinh tế của Liên Hiệp Châu Âu, nhưng về mặt quốc phòng Berlin thân thiết hơn với Washington ». Một dự án hợp tác chung chế tạo chiến dấu cơ SCAF « thế hệ sáu » giữa Pháp, Đức và Tây Ban Nha, với trọng tâm là tập đoàn Dassault, cũng có thể bị lung lay. Sau cùng, Paris lo sợ AUKUS là hồi chuông báo tử cho hàng loạt những thỏa thuận Anh Pháp trong lĩnh vực an ninh và quốc phòng trong khuôn khổ hiệp định Landcaster House 2010, bao gồm từ các dự án phát triển công nghệ chế tạo tên lửa chung, đến các chiến dịch tăng cường an ninh mạng …
    9/21/2021
    9:32
  • Tạp chí kinh tế - Châu Âu ngạt thở vì thiếu chip điện tử của châu Á
    Trung Quốc biết lo xa vơ vét chip điện tử. Châu Á, nguồn cung cấp đến 80 % linh kiện bán dẫn cho thị trường toàn cầu, bị tê liệt một phần dưới tác động của biến thể Delta, Covid-19. Hậu quả kèm theo là châu Âu bị vạ lây. Nhiều nhà máy trên Lục Địa Già phải tạm đóng cửa vì thiếu linh kiện bán dẫn. Hàng loạt các nhà máy trên thế giới phải hoạt động chậm lại, công nhân bị cho nghỉ việc vì lý do « kỹ thuật », lỗi do thiếu « não bộ » của hàng tỷ máy móc điện tử, từ xe hơi, đến điện thoại thông minh, máy tính cá nhân, TV, thẻ tín dụng ngân hàng... Châu Âu lệ thuộc đến 94 % vào chịp « nhập khẩu » bị nặng hơn cả. Trong chưa đầy một năm, các nhà máy sản xuất xe hơi ở Rennes (miền tây bắc nước Pháp), tại Sochaux (miền đông) hay ở Onnaing (miền bắc), đều đã phải tạm cho nhân viên nghỉ việc trong nhiều đợt. Nhìn rộng ra hơn tại châu Âu, các xưởng sản xuất của hãng xe Nhật Toyota chỉ hoạt động 40 % so với công suất bình thường. Lý do : nhà máy không còn chip điện tử để lắp ráp xe. Toyota không là trường hợp duy nhất. Đối thủ đáng gờm nhất của hãng xe Nhật này là tập đoàn Đức, Volkswagen cùng chung số phận. Tập đoàn sản xuất xe vận tải của Thụy Điển, Scania cuối tháng 8/2021 thông báo « ngưng sản xuất trong vòng một tuần » tại tất cả các nhà máy ở Thụy Điển, Pháp và Hà Lan. Riêng chi nhánh của tập đoàn Peugeot tại Rennes, sau ba tuần lễ nghỉ hè trong tháng 8, nhân viên bất ngờ được kéo dài thời gian nghỉ phép ngoài ý muốn. Tổng giám đốc Emil Frey France, chuyên phân phối 28 hiệu xe khác nhau tại 250 văn phòng đại diện trên toàn quốc khẳng định : « Thời gian giao hàng bị trễ từ sáu đến 9 tháng ». Theo thẩm định của cơ quan tư vấn Boston Consulting, hiện tượng khan hiếm linh kiện bán dẫn ảnh hưởng trực tiếp đến khoảng 8 triệu chiếc xe bán ra trên thế giới chỉ riêng trong năm nay, tương đương với gần 10 % của thị trường toàn cầu. Khoản thất thu kèm theo, ước tính lên tới khoảng 110 tỷ đô la theo thẩm định của Alix Partners, trụ sở tại New York. Vấn đề đặt ra là hiện tượng khan hiếm chip điện tử có nguy cơ kéo dài. Trả lời đài phát thanh tư nhân Radio Classique hôm 03/09/2021, Paul Boudre tổng giám đốc Soitec, tập đoàn cung cấp nguyên liệu để sản xuất công nghệ bán dấn của Pháp, chờ đợi « cơn khát » này sẽ kéo dài thêm « từ sáu đến chín quý nữa » có nghĩa là đến cuối 2023 : « Sự khan hiếm này được xác định ở nhiều cấp trước hết là từ phía các lò đúc. Như đã biết khoản đầu tư cần thiết trong ngành được tính hàng tỷ đô la. Các dây chuyền sản xuất đã hoạt động hết công suất. Bây giờ cần bắt buộc phải xây dựng những nhà máy máy mới và cần có thời gian để cân bằng mức cung và cầu ». Trung Quốc « vơ vét » chip của thế giới Có hai nguyên nhân dẫn tới hiện tượng khan hiếm nói trên, cả hai cùng xuất phát từ châu Á. Trên đài phát thanh France Info, chuyên gia kinh tế Rémi Bourgeot, cộng tác viên Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược - IRIS của Pháp chú ý đến chiến thuật của Trung Quốc trong bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ-Trung : « Trung Quốc đã lo xa, tích trữ linh kiện từ trước cho một thời gian dài, tránh để bị thiếu hụt. Một cách cụ thể là thay vì dự trù khối lượng đủ để cung cấp cho các nhà máy trong một hay hai tuần hay cùng lắm là một tháng, thì Trung Quốc dự trù cho khoảng thời gian là từ một đến hai năm, vơ vét chip của thị trường thế giới. Bằng mọi giá, Bắc Kinh muốn tránh để dây chuyền sản xuất bị gián đoạn. Trung Quốc đã đầu tư 180 tỷ đô la để phát triển các nhà máy sản xuất linh kiện bán dẫn, không phải lệ thuộc vào Mỹ. Châu Âu thì mới bắt đầu nhập cuộc ». 5 nhà máy tại Malaysia bị tê liệt Nguyên nhân thứ nhì khiến thị trường công nghệ bán dẫn càng lúc càng « căng », do dịch Covid-19 tái phát tại châu Á, nơi « tập trung đến 80 % các nhà máy sản xuất chip điện tử » để cung cấp cho toàn cầu : chỉ riêng tập đoàn TSMC của Đài Loan sản xuất 28 % những « con bọ điện tử bán ra cho thế giới. Một ông khổng lồ khác trong ngành là UMC cũng của Đài Loan chiếm 13 % thị phần toàn cầu. Nhật Bản bảo đảm 16,5 % nhu cầu tiêu thụ cho thế giới, Hàn Quốc là  21 %. Theo thẩm định của cơ quan tư vấn Hoa Kỳ IC Insight, trong lĩnh vực điện tử, châu Âu lệ thuộc vào 94 % chịp điện tử châu Á. Năm nhà máy tại Malaysia là nguồn cung cấp chính phục vụ các nhà máy lắp ráp xe hơi tại châu Âu. Năm nhà máy đó được đặt tại Penang, (bờ biển tây bắc Malaysia), một nhà máy thứ nhì đặt tại tỉnh Kedah, sát biên giới với Thái Lan, một ở cảng Malacca, một ở khu vực cực nam là Johor và nhà máy quan trọng sau cùng được đặt tại Selangor, cách không xa thủ đô Kuala Lumpur. Có điều dịch Covid-19 kéo dài từ đầu 2020 và đã bùng phát mạnh trở lại từ mùa xuân vừa qua khiến các nhà máy này đã phải tạm đóng cửa, hoặc hoạt động với số lượng nhân viên ít hơn nhiều so với bình thường. Những nhu cầu tiêu thụ mới Ở góc đài bên kia, chính virus corona đã đẩy nhu cầu tiên thụ tăng cao và phát sinh thêm những nhu cầu mới. Paul Boudre, tổng giám đốc tập đoàn Soitec của Pháp, phân tích : « Đại dịch là yếu tố thúc đẩy mọi việc : có nhiều thay đổi quan trọng, thậm chí là cả một sự đảo lộn, trong lối sống của chúng ta. Tiêu biểu nhất là trên phương diện y khoa và giáo dục. Linh kiện bán dẫn từ 40 năm nay đã đem lại nhiều thay đổi trong cuộc sống hàng ngày, qua máy điện toán, qua điện thoại thông minh… Ngành công nghệ bán dẫn càng lúc càng chiếm một vị trí quan trọng và cũng đã có nhiều tiến bộ trên thị trường này. Trước đây, chủ yếu bên công nghiệp sử dụng chíp điện tử, như công nghệ xe hơi… Nhưng đừng quên rằng từ khi dịch Covid-19 bùng lên, trong giai đoạn phong tỏa, mọi người đã phải mua thêm đến 300 triệu chiếc máy tính cá nhân để làm việc, để theo học từ nhà. Nhu cầu linh kiện bán dẫn càng lúc càng lớn và ngành công nghiệp sản xuất chip điện tử vừa là một yếu tố làm thay đổi môi trường công nghiệp, vừa đứng trước nhiều thử thách ». Chiến lược phát triển nào ? Vào lúc Hoa Kỳ đã xem « công nghệ bán dẫn » là một ưu tiên chiến lược, Trung Quốc đầu tư 180 tỷ đô la để không còn lệ thuộc vào bọ điện tử của Mỹ, thì châu Âu đã có những bước chuẩn bị như thế nào ? Tổng giám đốc Soitec, Paul Boudre trả lời : « Châu Âu có những công ty dẫn dầu thị trường trong ngành. Những công ty đó cần được hỗ trợ để tiếp tục là những con chim đầu đàn, để tiếp tục giữ thế thượng phong trong tương lai. Trong số những hãng lớn của châu Âu phải kể tới ST MicroElectronics, NSX Semiconductors hay Infeneon Technoligies… Các công ty này đã đầu tư rất nhiều và có hẳn những chiến lược phát triển linh kiện bán dẫn để phục vụ các ngành từ công nghệ viễn thông đến trí thông minh nhân tạo hay ngành công nghệ xe hơi. Giờ đây chúng ta đã trông thấy là nhu cầu càng lúc càng lớn của ngành y tế, giáo dục. Các trung tâm nghiên cứu về công nghệ nano và microtechnologies lại càng cần được hỗ trợ nhiều hơn và đã đến lúc các tập đoàn của châu Âu cần đẩy mạnh chiến lược phát triển ». Cụ thể hơn từ 2018, Pháp đã cùng với Đức, Ý và Áo hợp lưc trong một dự án chung mang tên PIIEC. Các bên cộng tác trong các khâu nghiên cứu và phát triển. Bộ Kinh Tế và Tài Chính Pháp đang tiếp tục vận động ba đối tác còn lại để triển hạn và tăng ngân sách cho khâu này. Mùa xuân vừa qua, Paris triệu tập nhiều đối tác Pháp và châu Âu trong ngành công nghiệp bán dẫn để « cùng hoạch định những chiến lược lâu dài ». Như vừa trình bày, đầu tư trong lĩnh vực này là những dự án bạc tỷ, nhất là châu Âu phải bắt kịp những chậm trễ so với các đối tác châu Á, liệu rằng Bruxelles và 27 nước thành viên có sẵn sàng để nhận lấy gánh nặng đó hay không ? Nhà cung cấp nguyên liệu cho các công ty sản xuất chip điện tử Pháp, Paul Boudre, hãng Soitec một lần nữa nhấn mạnh đến hợp tác giữa các doanh nghiệp với chính phủ : « Theo tôi tuyệt đối cần phải bảo đảm cho các doanh nghiệp châu Âu một môi trường phát triển an toàn, để cho các hãng này có hẳn một chiến lược rõ ràng trong lĩnh vực chuyên môn của họ. Chính thế leadership về mặt công nghệ đó là lá chủ bài bảo đảm cho sự độc lập về mặt chủ quyền của châu Âu. Bước tiếp theo là cần quan sát xem làm thế nào để tiếp cận với những công nghệ càng lúc càng tân tiến. Cả hai bước này đều chỉ có thể được thực hiện cùng với các doanh nghiệp ». 18 tháng trước đây, khi đại dịch Covid-19 bắt đầu, Pháp nói riêng Liên Hiệp Châu Âu nói chung đặt ra vấn đề « tự chủ về mặt công nghiệp » không chỉ vì thiếu hụt từ khẩu trang đến trang thiết bị y tế, mà cả trên lĩnh vực công nghệ bán dẫn. Nhưng rồi các nhà máy chip điện tử của châu Á cho đến rất gần đây vẫn hoạt động gần như bình thường, hồ sơ « tự chủ về công nghiệp » có vẻ như đã tạm thời lắng xuống. Nhưng khi cả ngành công nghiệp xe hơi của châu Âu, với hai đầu tàu là các hãng lớn của Đức và Pháp điêu đứng vì thiếu linh kiện bán dẫn của châu Á, thất thu hàng chục tỷ đô la, đây có thể là cú hích thúc đẩy Lục Địa Già đổi chiến lược phát triển công nghiệp.
    9/14/2021
    9:33
  • Tạp chí kinh tế - Chống khủng bố : Mỹ chôn hàng ngàn tỷ đô la tại Afghanistan và Irak
    Mỹ đã huy động hàng ngàn tỷ đô la tại hơn 80 mặt trận trên thế giới trong suốt 20 năm với một mục đích : tiêu diệt khủng bố. Hai thập niên sau loạt tấn công 11 tháng 9, Al Qaeda vẫn tồn tại, mối đe dọa khủng bố vẫn nguyên vẹn. Ai đài thọ những số tiền hàng ngàn tỷ đó, chúng được sử dụng như thế nào, những phí tổn thực sự của cuộc chiến chống khủng bố là bao nhiêu ? Một tháng sau khi bị tấn công ngay trên lãnh thổ quốc gia, Hoa Kỳ dẫn dầu liên quân quốc tế tấn công Afghanistan sào huyệt của Al Qaeda, tác giả loạt khủng bố tự sát 11/09/2001. Irak là mặt trận thứ nhì trong cuộc chiến “toàn diện” chống khủng bố. Trung Đông, châu Phi, dưới những hình thức khác nhau, tổng cộng Mỹ “hiện diện” tại 85 điểm nóng trên địa cầu. Vào lúc nước Mỹ chuẩn bị tưởng niệm đúng 20 năm đợt tấn công khủng bố 11/09, đại học Brown, bang Rhode Island, công bố nghiên cứu Costs of war – Những phí tổn chiến tranh. Các tác giả tổng kết : “8.000 tỷ đô la phí tổn chiến tranh, hơn 900.000 người trên thế giới thiệt mạng, đó là cái giá đè nặng lên Hoa Kỳ trong 20 năm kể từ biến cố 11 tháng 9 (…) Đây là một cuộc chiến kéo dài, phức tạp, khủng khiếp và không đem lại thành công”. 8.000 tỷ đô la do ai đài thọ và được dùng vào những việc gì? Theo các chuyên gia của đại học Brown, 8.000 tỷ đô la do cả bên bộ Quốc Phòng và Ngoại Giao Hoa Kỳ đảm nhiệm, vừa để đài thọ trực tiếp những chi phí chiến tranh trên các mặt trận từ Trung Đông tới Nam Á và châu Phi trong mục tiêu chống khủng bố, vừa để bảo đảm chăm sóc các cựu chiến binh trở về, vừa để tăng cường an ninh nội địa, vừa trang trải lãi suất ngân hàng khi chính quyền liên bang phải đi vay. Nghiên cứu nói trên ghi nhận : phí tổn thuần túy về quân sự của Mỹ tại Irak và Syria đã lên tới 2.100 tỷ đô la trong hai thập niên qua. Châu Phi cũng được dành 355 tỷ đô la trong ngân sách 8.000 tỷ chống khủng bố đó. Riêng trong trường hợp Afghanistan, tổng thống Joe Biden phát biểu hôm 31/08/2021 giải thích quyết định rút quân khỏi Afghanistan đã dẫn lại nghiên cứu của đại học Brown : 2.300 tỷ đô la trên tổng số 8.000 tỷ đã đổ vào Afghanistan và Pakistan. Từ 2001 “đã chi hơn 2.000 tỷ đô la trong cuộc chiến Afghanistan, (...) và liên tục từ 20 năm qua, mỗi ngày 300 triệu đô la” không cánh mà bay. Tháng 2/2020, khi chính quyền Trump đạt được với Taliban một “thỏa thuận lịch sử” cho Afghanistan, Lầu Năm Góc cho biết vẫn còn khoảng 14.000 quân nhân Mỹ tại hiện trường. Ngày 31/08/2021, vào lúc phong trào Hồi giáo cực đoan này tiếp quản sân bay Kabul, các phương tiện truyền thông đồng loạt tổng kết cuộc chiến dài nhất trong lịch sử Hoa Kỳ cướp đi sinh mạng của 2.400 lính Mỹ, làm hơn 20.000 quân nhân bị thương. Giải mã những hồ sơ địa chính trị của thế giới trên kênh Youtube cá nhân, Pascal Boniface, giám đốc Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS của Pháp lưu ý, Mỹ đã tốn kém rất nhiều trong cuộc chiến chống khủng bố tại Afghanistan, nhưng hiệu quả mong đợi không bao nhiêu, ngoại trừ thành tích tiêu diệt được trùm khủng bố Oussama Ben Laden hồi năm 2011, sau một cuộc săn lùng kéo dài gần một chục năm :    “Điều đáng chú ý ở đây là hồi 2001, cộng đồng quốc tế đã mạnh mẽ và đồng thanh ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến Afghanistan, bởi vì Afghanistan là nơi Al Qaeda ẩn náu và như vậy đủ tính chính đáng để can thiệp. Hơn nữa, Mỹ đã can thiệp một cách hợp pháp trong khuôn khổ của Liên Hiệp Quốc. Nhưng rồi cuộc chiến từng được cộng đồng quốc tế hậu thuẫn đó đã kết thúc một cách thảm hại. Đây là một sự nhục nhã do sức mạnh quân sự bất tương xứng : Mỹ đã chi ra hơn 2.200 tỷ đô la trong 20 năm tham chiến ở Afghanistan, đã cung cấp 83 tỷ đô la trang thiết bị quân sự cho quốc gia Nam Á này, để rồi giờ đây, phần lớn những trang thiết bị đó rơi vào tay Taliban. Siêu cường số một thế giới lại bị các toán dân quân đánh bại. Chúng ta cần đặt câu hỏi là vì sao ?”   Chống khủng bố : Chiến dịch quân sự “đắt đỏ” nhất trong lịch sử Hoa Kỳ Vẫn theo nghiên cứu của đại học Brown, “2.260 tỷ đô la chi phí quân sự trong chiến tranh Afghanistan” đủ là một khoản tiền làm mọi người “chóng mặt”. Chính quyền liên bang trong hai thập niên qua đã bơm thêm 1.435 tỷ đô la cho ngân sách của bộ Quốc Phòng và Ngoại Giao. Gần 300 tỷ dành riêng cho các chi phí y tế chăm sóc các cựu chiến binh Mỹ từ Afghanistan trở về, thêm 530 tỷ đô la tiền lãi bộ Tài Chính trực tiếp rót cho các chủ nợ, để Washington có thể tài trợ cho những phí tổn chiến tranh Afghanistan. Tiền của Mỹ rơi vào túi ai ? Mỹ đã sang trang 20 năm chiến tranh Afghanistan, nhưng quốc gia Nam Á này tiếp tục là “cái hòm không đáy” đeo đuổi Hoa Kỳ trong hàng chục năm nữa. Theo giới nghiên cứu đại học Brown, bên cạnh số tiền 2.260 tỷ đã vĩnh viễn bay vào hư không, thì “trong những thập niên sắp tới, các phí tổn dành cho  các quân nhân từng phục vụ ở Afghanistan và Irak sẽ tăng thêm từ 600 đến 1.000 tỷ đô la nữa. Nhưng con số khiến độc giả giật mình hơn cả chắc chắn là thẩm định của đại học Brown về 6.500 tỷ đô la tiền lãi mà chính phủ Hoa Kỳ sẽ tiếp tục phải thanh toán cho các chủ nợ từ nay đến năm 2050. Trong số các chủ nợ của Hoa Kỳ, “có nhiều quốc gia không hẳn là những đồng minh của Mỹ”, như ghi nhận của bà Heidi Peltier, kinh tế gia đại học Boston, qua công trình nghiên cứu được công bố hồi tháng 10/2020. Tính đến mùa thu năm ngoái, Washington đã trả 530 tỷ đô la tiền lãi cho các chủ nợ.    Trung Quốc đang nắm giữ 16 % nợ của Mỹ để đài thọ cho chiến tranh chống khủng bố, trong lúc Bắc Kinh là một đối thủ quân sự trực tiếp của Washington. Theo tài liệu này, gần như “toàn bộ hai cuộc chiến chống khủng bố tại Afghanistan và Irak đều được tài trợ bằng các khoản tín dụng”. Nhưng có “vay” thì có “trả”. Heidi Peltier đại học Boston lưu ý : Cuộc chiến chống khủng bố của Hoa Kỳ là xung đột đầu tiên mà chung cuộc “số tiền lãi trả cho các chủ nợ sẽ cao hơn cả các phí tổn thuần túy quân sự”. Ngoài các chủ nợ, thành phần hưởng lợi thứ nhì là các tập đoàn sản xuất vũ khí của Mỹ. Bộ Quốc Phòng ghi nhận trong 20 năm qua đã cấp gần 90 tỷ đô la trang thiết bị quân sự cho quân đội Afghanistan, đào tạo cho một đội quân hơn 300.000 lính. Nhưng khi Taliban tràn vào Kabul thì đội quân hùng hậu đó đã chẳng mấy kháng cự. Báo Le Monde của Pháp trích dẫn nhiều nguồn tin từ Lầu Năm Góc cho hay, các chính quyền Kabul liên tiếp đã “thổi phồng quân số” để nhận viện trợ của Mỹ. Có ít nhất 46 binh đoàn “ma” với tổng số 36.800 quân nhân chỉ có tên trên giấy tờ. Đó là chưa kể những người lính nhận tiền của chính phủ, nhưng chỉ trung thành với Taliban. Thất bại trong công cuộc tái thiết Afghanistan Báo Washington Post tháng 12/2019 nhắc lại ba đời tổng thống Mỹ liên tiếp là George Bush, Barack Obama và Donald Trump cùng cam kết sẽ không sa lầy trên hồ sơ tái thiết Afghanistan. Nhưng theo điều tra của tờ báo này, từ 2001 đến 2019 Washington đã giải ngân “133 tỷ” giúp các chính quyền liên tiếp tại Kabul “xây dựng lại” hệ thống hành chính, tái thiết kinh tế, tăng cường an ninh. Số tiền đó tính ra còn “cao hơn cả kế hoạch Marshall của Mỹ giúp châu Âu tái thiết sau Thế Chiến Thứ Hai”. Ngay cả trên mặt trận này, Mỹ cũng đã “thất bại”. Hoa Kỳ theo Washington Post đã “dựng lên một chính quyền tham nhũng, bất tài, phải lệ thuộc vào sự hiện diện quân sự của Mỹ (…) Chính thất bại đó đã giải thích vì sao công luận Afghanistan lại căm thù các lực lượng nước ngoài (…) Afghanistan cùng với việc sa lầy tại Irak (…) đã tạo cơ hội cho tổ chức tự nhận là Nhà Nước Hồi Giáo phát triển. Về phía Mỹ, một lần nữa Washington lại chứng minh rằng sức mạnh quân sự và tài chính không đủ để tạo dựng những định chế vững vàng cho Afghanistan. Nhà địa chính trị học Didier Billion Viện Quan Hệ Quốc Tế và Chiến Lược IRIS của Pháp trong bài nghiên cứu hôm 21/08/2021 đưa ra hai con số cụ thể : tỷ lệ nghèo khó tại Afghanistan đang từ 34 % năm 2007-2008 nhảy vọt lên thành 54 % một chục năm sau đó ; 1/3 trẻ em không được cắp sách đến trường : cả hai chỉ số này là mầm mống đưa Taliban trở lại cầm quyền ở Afghanistan. Đối đầu với sức mạnh và những phương tiện khổng lồ của Mỹ, Taliban có những lá chủ bài không thể chối cãi : “kỷ cương, là quyết tâm đánh đuổi ngoại xâm (…) và cả một chiến lược chính trị rõ ràng”. Chuyên gia người Pháp này kết luận : Đấy là một thực tế mà liên quân quốc tế dưới sự dẫn dắt của Hoa Kỳ đã mất 20 năm, mất hơn 2.200 tỷ đô la, mà vẫn không hiểu gì về Afghanistan” Stephanie Savell, đồng giám đốc chương trình nghiên cứu Costs of War của đại học Brown, Hoa Kỳ, nhìn tổng quát hơn về “cuộc chiến chống khủng bố” của Mỹ. Theo bà, “20 năm nữa, một thời gian dài khi không còn những người lính Mỹ, chúng ta vẫn sẽ phải tính sổ những phí tổn nghiêm trọng về mặt xã hội từ những cuộc chiến ở Afghanistan và Irak”.
    9/7/2021
    9:31
  • Tạp chí kinh tế - Trung Quốc vơ vét gỗ của Pháp
    « Rừng vàng, biển bạc » : Trung Quốc đang chiếm đoạt những mỏ « vàng  xanh » của Pháp. Sau châu Á, châu Phi và rừng Amazon, đến lượt châu Âu trở thành nạn nhân của « cơn khát gỗ Trung Quốc ». Đầu tháng 7/2021, hiệp hội các công ty khai thác gỗ FNB báo động: « Rừng Pháp đang bị Trung Quốc rút ruột và 90% các xưởng cưa khan hiếm gỗ sồi ». Hàng chục ngàn người lao động trong ngành công nghiệp chế biến gỗ trên toàn quốc bị đe dọa mất việc. Với 18 triệu hecta, Pháp là một trong những quốc gia có diện tích rừng lớn nhất châu Âu, là một trong ba nguồn xuất khẩu gỗ lớn nhất thế giới, đặc biệt là xuất khẩu gỗ sồi. Nhưng bản thân nước Pháp có nguy cơ thiếu gỗ để làm nhà hay ván lót sàn nhà, để sản xuất đồ nội thất. Cơn sốt trên thị trường gỗ FNB, hiệp hội quốc gia trong ngành gỗ, bao gồm các chủ đồn điền, các công ty khai thác gỗ, các xưởng cưa, ngành chế biến gỗ, công nghiệp bột giấy, kiến nghị lên chính phủ Pháp tăng cường các biện pháp bảo vệ ngành lâm sản, vào lúc thị trường gỗ trên thế giới đang lên cơn sốt. Bản kiến nghị đã thu thập được hơn 13.000 chữ ký của giới trong ngành. Nhu cầu tiêu thụ của thế giới và giá gỗ tăng vọt. Chỉ riêng với loại gỗ sồi, 1/3 sản lượng của Pháp khai thác trong năm được dành để phục vụ thị trường Trung Quốc. Từ tháng Giêng cho tới hết tháng 5/2021, gần 190 ngàn mét khối gỗ sồi của Pháp đã được bán qua Trung Quốc. Kim ngạch xuất khẩu gỗ của Pháp tăng 42% trong sáu tháng đầu năm. Nhưng đây hoàn toàn không phải là một tin vui. Hiệp hội FNB báo động, với đà này, Pháp sẽ đánh mất từ 50.000 đến 400.000 việc làm. Samuel Deschaumes, điều hành công ty CBM trong ngành làm ván lót sàn nhà trong vùng Cher (miền trung nước Pháp), giải thích : « Hậu quả vừa nghiêm trọng vừa tức thời. Sáng nay chẳng hạn, nhà cung cấp vừa báo cho chúng tôi biết là giá gỗ lại tăng, và ở cuối thư có ghi rõ là ngay cả với giá cao hơn trước, chúng tôi cũng không được bảo đảm là được giao hàng đúng thời hạn. Nếu không nhanh chóng tìm ra ngõ thoát, thì chỉ đến mùa thu này, Pháp bị thiếu nguyên liệu để làm ra những tấm ván ép lót sàn nhà ». Bà Mathilde Joselet, điều hành xưởng cưa của gia đình trong vùng Charente, miền tây nước Pháp, cho biết vì thiếu nguyên liệu, chính xưởng chỉ hoạt động từ 60 đến 80% so với công suất bình thường. Nguy cơ dân Pháp mất việc Marie Claude, một nhân viên của xưởng Joselet, trông thấy tương lai đen tối: « không có việc làm vì Trung Quốc vét hết gỗ ». Patrice Janody, chủ nhân một công ty trong vùng Ain, cũng gióng tiếng chuông báo động tương tự, khi nói đến một sự « bất lực » trước viễn cảnh hãng JmB của ông không thể bảo đảm công việc làm cho dân cư trong vùng. Ông nhấn mạnh hiện còn cầm cự được là nhờ quen biết một số chủ rừng như Gérard Thivillier. Ông này chủ trương ưu tiên bán gỗ để nuôi sống các nhà sản xuất trong vùng : « Cho đến giờ chúng tôi vẫn bán gỗ cho các hãng Pháp tương tự như 10-15 năm trước đây, vì không muốn trông thấy các xưởng cưa ở địa phương phải đóng cửa, dân ở đây bị mất việc». Năm 2020, lượng gỗ của Pháp xuất khẩu sang Trung Quốc đã « tăng lên gấp đôi so với thời điểm 2019 ». Từ hai năm nay, trên thị trường gỗ sồi, Pháp đã qua mặt cả Mỹ và Nga, vốn là hai quốc gia xuất khẩu gỗ lớn nhất thế giới, chiếm 30% thị phần Trung Quốc. Theo các số liệu của Cơ quan quản lý rừng quốc gia, hiện tại 1/3 gỗ sồi quốc gia dành để phục vụ thị trường Trung Quốc, cách nay vài năm tỷ lệ đó chỉ là 1/10. Bảo vệ rừng quốc gia, nhưng hủy hoại tài sản của nơi khác Từ 2017, Bắc Kinh ban hành một chỉ thị bảo vệ 138 triệu hecta rừng trong vòng 99 năm. Trung Quốc liên tục khoe thành tích huy động 14 tỷ đô la « mở rộng diện tích rừng », nhưng  thế giới trả giá đắt cho ý thức về môi trường đó của Trung Quốc. Hãng tin Bloomberg năm 2016 thẩm định, « đến 2020 Trung Quốc phụ thuộc vào nhập khẩu để đáp ứng 40% nhu cầu nội địa ». Đó là chưa kể nạn mua bán gỗ lậu Trung Quốc, như trung tâm nghiên cứu Chattham House của Anh đã báo động. Theo báo cáo của trung tâm bảo vệ phát triển bền vững Wood Value Promotion and Sustainable Development, trực thuộc cơ quan Lương Nông Liên Hiệp Quốc, từ 2014, nhu cầu về gỗ của Trung Quốc đã vượt quá khả năng khai thác tài nguyên quốc gia. Năm 2017, khối lượng nhập khẩu lần đầu tiên vượt ngưỡng 100 triệu mét khối. Năm ngoái, bất chấp tác động dây chuyền từ dịch Covid-19, nhu cầu nhập khẩu gỗ của Trung Quốc vẫn gia tăng. Trung Quốc sản xuất 300 triệu bàn ghế, giường tủ và một phần lớn trong số đó lại là để xuất khẩu sang Mỹ, châu Âu hay châu Á. Áp lực từ phía Nga Khoảng 90% gỗ của Mozambic, 70% xuất khẩu của Nga là để bán sang Trung Quốc. Với Pháp, bài toán thêm nan giải sau khi Matxcơva thông báo từ ngày 01/01/2022 sẽ « cấm xuất khẩu » để bảo vệ ngành công nghiệp chế biến gỗ của Nga. Trong vài tháng nữa, lượng gỗ trên thị trường quốc tế giảm sụt 20% khi không còn nguồn cung cấp của Nga. Đại diện của hiệp hội ngành gỗ tại Pháp Nicolas Douzain-Didier nhắc lại châu Phi từ 10 năm qua đã ngừng xuất khẩu gỗ, Trung Quốc với nhu cầu tiêu thụ và xuất khẩu hàng chế biến từ gỗ bây giờ chỉ còn trông cậy vào thị trường Mỹ và châu Âu. Áp lực đối với châu Âu, đặc biệt là với Pháp, lại càng lớn. Câu hỏi đặt ra là những xưởng cưa hay các hãng chế biến sản phẩm từ gỗ cầm cự được tới khi nào trước « cơn khát gỗ » của Trung Quốc ? Trung Quốc trao toàn quyền và hầu bao khá lớn cho các nhà môi giới để thâu tóm gỗ của châu Âu. Chủ tịch hiệp hội các nhà sản xuất gỗ của Pháp, Jacques Ducerf, giải thích, khách hàng Trung Quốc sẵn sàng trả giá cao hơn từ 20 đến 30% so với thị trường để làm chủ nguồn tài nguyên này. Trong điều kiện đó, các hãng của Pháp khó mà cưỡng lại. Một nhà khai thác rừng trong vùng Savoie, miền đông nước Pháp, ông Nicolas Talpin, trình bày về áp lực tài chính đặt ra cho các chủ đồn điền : « Khách hàng Trung Quốc trả giá cao hơn từ 30 đến 40%. Họ lại thanh toán ngay khi lấy hàng. Về phía các chủ đồn điền, chúng tôi cần được bảo đảm nguồn thu nhập để trang trải chi phí cho ngân hàng, để có thể tiếp tục khai thác, bảo quản rừng ». Gilles de Boncourt, giám đốc tổ hợp quản lý rừng Unisylva, cho biết thêm : « Trong bốn năm trở lại đây, giá gỗ sồi đã nhân lên gấp đôi, nhờ vậy chúng tôi không bị thua lỗ nhiều và nhất là có phương tiện để đầu tư trở lại vào các diện tích rừng. Đương nhiên là chúng tôi muốn bán gỗ, nhất là các loại gỗ tốt, cho các nhà sản xuất của châu Âu, của Pháp, nhưng đôi khi chúng tôi không có sự lựa chọn nào. Đơn giản là vì vấn đề giá cả mà thôi ». Trên đài France Culture, Bertrand Robert, điều hành một xưởng cưa và khai thác gỗ trong vùng Indre, miền tây nước Pháp, cho rằng đã đến lúc chính phủ phải can thiệp để bảo vệ ngành khai thác lâm sản và cả mảng công nghiệp gỗ quốc gia : « Ở đây chúng tôi bị kiểm tra ở đủ mọi khâu, lúc thì bị kiểm tra về chất lượng gỗ, khi thì về các chuẩn mực bảo vệ môi trường thiên nhiên. Những nhà mua bán ngoại quốc thì không. Họ đến Pháp, mua gỗ chở đi, mà không cần giấy tờ chứng minh gì cả. Đây là một sự cạnh tranh bất bình đẳng ». Một điều trớ trên khác là Trung Quốc « hút gỗ » của Pháp và châu Âu nói chung, nhưng một phần lớn là để đóng đồ nội thất, rồi những thành phẩm đó lại được xuất lại sang châu Âu. Theo lôgic này, giá đồ nội thất làm từ Trung Quốc bán cho Pháp sẽ đắt hơn trong lúc mà các xưởng chế biến đồ gỗ của Pháp thì không có nguyên liệu để hoạt động, người lao động Pháp bị đe dọa mất việc. Ngành lâm sản bảo đảm việc làm cho 440.000 người tại Pháp, tương đương với khối lượng lao động của ngành công nghiệp xe hơi, đem về doanh thu hơn 60 tỷ euro (3% GDP). Khác với Trung Quốc, hay sắp tới đây là Nga, hiện tại Pháp chưa quyết định cấm hay giới hạn xuất khẩu gỗ, trong lúc các chuẩn mực về môi trường về mục tiêu chống phá rừng lại rất khắt khe, cho nên diện tích và khối lượng gỗ được khai thác hàng năm có hạn. Vào lúc Pháp cận kề nguy cơ thiếu nguyên liệu thì chính phủ « chờ đợi » một giải pháp chung ở cấp châu Âu. Hiệp hội FNB lưu ý rằng từ nay cho đến khi Bruxelles tìm được đồng thuận chung cho 27 thành viên về chính sách khai thác rừng và cho ngành công nghiệp gỗ, Trung Quốc « tiếp tục hút cạn » « rừng vàng » của Pháp. Ngay cả một quốc gia như Rumani đã trông thấy mối đe dọa từ các « tay môi giới Trung Quốc », nên Bucarest đã cấm xuất khẩu gỗ của Rumani ra ngoài thị trường chung châu Âu. Chỉ riêng thí dụ điển hình của ngành khai thác gỗ cũng đủ cho thấy những giới hạn của quyết tâm « độc lập về công nghiệp » của Pháp với nền kinh tế số 2 thế giới.
    8/31/2021
    9:19
  • Tạp chí kinh tế - Bắc Kinh tấn công ngành công nghệ số Trung Quốc
    Ngành công nghệ số Trung Quốc lao đao. Bắc Kinh đưa các tập đoàn internet Trung Quốc vào khuôn phép, gần 1.000 tỷ đô la trị giá chứng khoán bốc hơi. Tương tự như chiến dịch bài trừ tham nhũng, các biện pháp « chống cạnh tranh bất bình đẳng trên mạng » của Bắc Kinh còn nhằm những mục đích chính trị và an ninh. Ngay từ đầu năm 2021, Cơ Quan Giám Sát Không Gian Mạng Trung Quốc CAC công bố dự luật kiểm soát chặt chẽ hơn công nghệ digital. Những cái tên quen thuộc với dân cư mạng từ Alibaba đến ByteDance, Weibo hay Tencent … là những mục tiêu trong tầm ngắm của Bắc Kinh. Trung Quốc kiểm soát các công ty mạng dưới hình thức nào và với những mục đích gì ? Đâu là những hệ quả kèm theo và chiến lược mới đó ảnh hưởng thế nào đến cuộc đọ sức công nghệ Mỹ-Trung ? Kiểm duyệt kho dữ liệu cá nhân Vào lúc các tập đoàn trong nhóm GAFAM của Mỹ đang trong chu kỳ thịnh vượng chưa từng thấy, thì ở góc đài bên kia, các đối thủ Trung Quốc của những nhà cung cấp mạng trong vùng thung lũng Silicon đang điêu đứng. Chỉ số CSI, tập hợp các ông vua công nghệ của Trung Quốc tham gia sàn chứng khoán Hồng Kông và New York, trong tháng 7/2021 mất giá trên 26 %. Lý do : Bắc Kinh thông báo một loạt các biện pháp tăng cường kiểm soát hoạt động của các con chim đầu đàn về công nghệ số. Cổ phiếu của Alibaba mất giá 13 %, Tencent là 18 %. Tệ hơn nữa chỉ số chứng khoán của Meituan chuyên giao hàng tận nhà cho tư nhân giảm 29 %. Báo tài chính Anh Financial Times nói đến một sự « hoảng loạn » trên các sàn chứng khoán Trung Quốc hồi tháng trước. Hôm 20/08/2021 Bắc Kinh thông qua luật bảo vệ dữ liệu cá nhân trên mạng nhằm « chống mọi hành vi gian lận » gây thiệt hại cho người sử dụng internet. Trên thực tế, từ cuối 2020 đầu 2021 lĩnh vực công nghệ kỹ thuật số Trung Quốc đã lọt vào tầm ngắm của Bắc Kinh. Tương tự như Mỹ và Châu Âu, giới lãnh đạo Trung Quốc muốn « điều chỉnh lại luật hiện hành » liên quan đến các dịch vụ trên mạng. Báo kinh tế của Pháp Les Echos đưa ra một số thí dụ cụ thể như là luật về mua bán trên mạng của Trung Quốc được quy định từ năm 2000. Mục tiêu khi đó chỉ nhằm bảo đảm là những dịch vụ trao đổi trên mạng này không làm phương hại đến an ninh và quyền lợi quốc gia. Nhưng trong hai thập niện qua, số người sử dụng internet đã nhẩy vọt từ 23 triệu lên thành 940 triệu và kèm theo đó hàng loạt các nhà cung cấp như Tencent hay ByteDance đã lần lượt ra đời. Một sự điều chỉnh cần thiết nhưng quá mạnh tay Tương tự như ở châu Âu và Mỹ, dân Trung Quốc ngày càng dùng điện thoại di động với những ứng dụng để thanh toán trên mạng, để giao lưu với người thân, để gọi xe taxi … Không ít trong số các công ty đó lại hoạt động cả tại Hoa Lục lẫn ở hải ngoại. Do vậy, theo giải thích của chuyên gia Alex Payette, sáng lập viên cơ quan tư vấn Cercius – Montréal, Canada và cũng là một cây bút trên tạp chí Asialyst, kiểm soát các luồng thông tin và dữ liệu lưu hành trên mạng là mục tiêu hiển nhiên : « Trong trường hợp này, tất cả vấn đề liên quan đến các dữ liệu. Bắc Kinh muốn biết các tập đoàn công nghệ số đang nắm giữ những dữ liệu nào, chúng được cất giữ ở đâu và có nguy cơ bị thất thoát ra ngoài lãnh thổ Trung Quốc hay không. Phần còn lại, những quy định mới của dự luật kiểm soát các hoạt động internet hầu như không ảnh hưởng trực tiếp đến các nguồn thu nhập của các công ty trong ngành, ngoại trừ mảng liên quan đến các công nghệ được ngành giáo dục sử dụng. Trung Quốc muốn kiểm soát các dữ liệu và mục tiêu sau cùng, là kiểm soát các luồng thông tin về tất cả những gì liên quan đến Trung Quốc : những dữ liệu nào được đưa vào Hoa lục và những thông tin nào về Trung Quốc có thể thất thoát ra bên ngoài. Trung Quốc tăng cường các biện pháp kiểm soát công nghệ số chỉ với mục đích đó là chính ». Ít ảnh hưởng đến quyền lợi tài chính của các doanh nghiệp Vẫn trong cuộc trả lời dành cho RFI tiếng Việt, ông Payette lưu ý về trường hợp đặc biệt của các doanh nghiệp sử dụng công nghệ cao trong công việc giảng dậy. Ở đây liên quan trực tiếp đến gần 200.000 trường dậy tư trên toàn quốc và doanh thu trong ngành lên tới 100 tỷ đô la một năm. Theo Alex Payette, Trung Quốc không che giấu mục tiêu kiểm duyệt nội dung các chương trình giáo dục. Bắc Kinh muốn loại bỏ một số nguồn thông tin trong sách giáo khoa được trích dẫn của nước ngoài, kiểm soát nội dung giảng dậy trong các chương trình lịch sử, tôn giáo … Ngoài lĩnh vực giáo dục như vừa nói, về câu hỏi chính quyền Trung Quốc can thiệp vào công nghệ số dưới những hình thức nào, bên cạnh các công cụ pháp lý mà Bắc Kinh đang từng bước kiến tạo, The Wall Street Journal nói đến hiện tượng chính quyền để cho một vài quỹ đầu tư dùng vốn mua lại cổ phần của những đối tượng muốn nhắm tới để đổi lấy một lá phiếu trong hội đồng quản trị của các những nhà cung cấp dịch vụ trên mạng. Đó là một hình thức để can thiệp trực tiếp và làm chủ kho dữ liệu cá nhân trên mạng. Việc Nhà nước Trung Quốc nhòm ngó đến các kho dữ liệu cá nhân trong tay những tập đoàn như Didi cung ứng dịch vụ gọi xe taxi hay của mạng xã hội Vi Bác/Weibo không ảnh hưởng gì đến thu nhập hay khoản tiền lời của những công ty này. Nhưng đó là một tín hiệu xấu Bắc Kinh gửi tới các nhà đầu tư nước ngoài khi mà các con chim đầu đàn của nền công nghệ Trung Quốc tham gia sàn chứng khoán Hồng Kông hay New York. Đó là lý do khiến từ đầu năm 2021 cổ phiếu của Alibaba hay Tencent … mất giá. Alex Payette, công ty tư vấn Cercius – Montréal nhìn nhận việc đưa ngành công nghệ vào « khuôn phép » theo lôgic của Bắc Kinh nhằm mục đích kiểm duyệt nhưng quyết định này cũng có phần nào chính đáng. « Phản ứng của thị trường là trị giá cổ phiếu của các công ty công nghệ số Trung Quốc đã rơi mạnh Tuy nhiên tiếc là mọi người không nhìn kỹ vào nội dung dự luật của Trung Quốc. Trong nhiều trường hợp, có thể nói thị trường đã phản ứng quá đáng và quá mạnh. Mọi người rất sợ việc Trung Quốc tăng cường kiểm soát hoạt động trong ngành, nhưng thực tế không đơn giản là trắng hay đen, tốt hay xấu. Đúng là đảng Cộng Sản Trung Quốc muốn kiểm soát các luồng thông tin và dữ liệu nhưng việc kiểm soát đó không ảnh hưởng đến khả năng đem lại lợi nhuận của các đối tượng bị nhắm tới, ngoại trừ trong lĩnh vực giáo dục như vừa nói. Thí dụ như trong trường hợp của hãng Didi, một công ty cung ứng dụng gọi xe taxi của Trung Quốc. Tập đoàn này đã tham gia sàn chứng khoán Mỹ và Bắc Kinh sợ rằng nhiều thông tin mà Didi đang nắm giữ bị lọt ra ngoài cho nên cơ quan quản ký không gian mạng Trung Quốc đã gây sức ép rất mạnh, buộc Didi phải tuân thủ luật lệ của Trung Quốc cho dù đó là những quy định đã có từ trước khi Didi tham gia thị trường tài chính Hoa Kỳ. Trên thực tế, tương tự như ở Mỹ hay châu Âu, Trung Quốc cũng chỉ điều chỉnh một số các quy định để buộc các nhà cung cấp mạng, các tập đoàn digital cũng phải tuân thủ luật lệ đã hiện hành ». Bắc Kinh tấn công vào công cụ để cạnh tranh với Mỹ ? Trong bối cảnh Trung Quốc đang chạy đua với Mỹ về mọi mặt mà công nghệ số là một tủ kính của sự thành công về kinh tế của Bắc Kinh vậy thì chính sách tăng cường kiểm duyệt này liệu có là một vố đau đánh vào những « GAFA » phiên bản Trung Quốc hay không ? Cho dù việc chấn chỉnh hoạt động của giới trong ngành là điều cần thiết nhưng đây có là thời điểm thuận lợi để đưa các công ty internet Trung Quốc vào khuôn phép ? Chuyên gia Payette trả lời : « Nhìn từ bên ngoài, rõ ràng là quyết định của Bắc Kinh gây nhiều thiệt hại khủng khiếp. Gần cả ngàn tỷ đô la trị giá chứng khoán đã bốc hơi và đây là một tín hiệu xấu trong mắt các nhà đầu tư. Nhưng đảng Cộng Sản và giới lãnh đạo Trung Quốc theo đuổi một lôgic khác. Từ gần 20 năm qua, các tập đoàn công nghệ internet Trung Quốc đã phát triển rất nhanh và rất mạnh. Vì đây là một lĩnh vực còn quá mới, nhà nước chưa đưa ra những khung pháp lý chặt chẽ và các công ty trong ngành đã tận dụng cơ hội để làm giàu. Đôi khi các công ty đó đã phát triển một cách bừa bãi. Thí dụ như một hãng có thể phát triển các ứng dụng tài chính hoạt động như một ngân hàng, nhưng lại không tham gia vào ngành tài chính. Từ đó nảy sinh nguy cơ tư nhân vỡ nợ … Trên một phương diện nào đó, áp đặt một số quy định chặt chẽ hơn để chỉnh đốn lại hoạt động trong ngành là một quyết định chính đáng. Vấn đề ở đây là Đảng muốn kiểm soát thông tin và kiểm soát dữ liệu cá nhân của những người sử dụng internet ». Internet vẫn là một mối đe doa trong mắt Bắc Kinh Tuy nhiên cũng chính đáng không kém là câu hỏi Trung Quốc sẽ làm gì với kho dữ liệu của các dân cư mạng, tài nguyên quý giá nhất trong thời đại công nghệ số ? Ant Group, cánh tay nối dài của Alibaba được cho là đã nắm giữ dữ liệu của hơn 1 tỷ người sử dụng, tương đương với khối dữ liệu mà hai tập đoàn Google và Facebook năm giữ. Vẫn Alex Payette lưu ý, từ khi ông Jack Ma, chủ nhân Alibaba bị thất sủng hồi tháng 10/2021, ai cũng biết sớm muộn gì ngành high tech của Trung Quốc cũng sẽ bị chính quyền trong tay ông Tập Cận Bình tấn công. Có điều Bắc Kinh đã ra tay một cách « quá nhanh và quá mạnh ». Nhưng đừng quên rằng, đằng sau những khẩu hiệu như « bảo vệ thông tin cá nhân cho người sử dụng internet, bài trừ nạn gian lận trên mạng, … » ông Tập Cận Bình còn muốn loại trừ các đối thủ chính trị tiềm tàng : « Đừng quên khía cạnh thứ nhì trong việc áp đặt những quy định mới, tương tự như khi Bắc Kinh khởi động chiến dịch bài trừ tham nhũng. Rất nhiều tập đoàn công nghệ số Trung Quốc phát triển mạnh mẽ nhờ hưởng lợi từ thời Giang Trạch Dân. Thành thử đối với ông Tập Cận Bình, bắt ngành công nghệ số vào khuôn phép là « một công đôi việc » : vừa chỉnh đốn hoạt động trong lĩnh vực internet, vừa chọc gậy bánh xe những công ty nào bị ông Tập Cận Bình coi là bất hảo. Do vậy, cho dù quyết định của Bắc Kinh có gây nhiều thiệt hại về tài chính, gần ngàn tỷ đô la trị giá chứng khoán không cánh mà bay, nhưng ông Tập và đảng Cộng Sản Trung Quốc không quan tâm nhiều tới chuyện đó. Tập Cận Bình thậm chí muốn đi đến cùng, như trong cách cư xử với Alibaba của nhà tỷ phú Mã Vân-Jack Ma, nhưng rồi Bắc Kinh không đánh gục nổi ông khổng lồ này mà thôi. Tôi cam chắc rằng chính quyền Trung Quốc rất muốn Alibaba tan nát, để bắt tập đoàn này trả giá về cái tội thiếu trung thành với Đảng ». Cũng có thế nhận thấy rằng, qua việc muốn làm chủ lại internet, Bắc Kinh và đảng Cộng Sản Trung Quốc không muốn để mảng công nghệ tin học trở nên quá mạnh và quá độc lập. Đó có thể là lý do giải thích vì sao chính quyền Trung Quốc sẵn sàng để cho hàng trăm, thậm chí là cả ngàn tỷ đô la trên các thị trường chứng khoán, không cánh mà bay. Ảnh hưởng và trọng lượng quá lớn của những công ty internet là những mối đe dọa đáng sợ nhất nhắm vào sự tồn tại và ổn định của chế độ.
    8/24/2021
    10:32

About TẠP CHÍ KINH TẾ

Station website

Listen to TẠP CHÍ KINH TẾ, TẠP CHÍ ÂM NHẠC and Many Other Stations from Around the World with the radio.net App

TẠP CHÍ KINH TẾ

TẠP CHÍ KINH TẾ

Download now for free and listen to radio & podcasts easily.

Google Play StoreApp Store

TẠP CHÍ KINH TẾ: Podcasts in Family

TẠP CHÍ KINH TẾ: Stations in Family

Information

Due to restrictions of your browser, it is not possible to directly play this station on our website.

You can however play the station here in our radio.net Popup-Player.

Radio