Radio Logo
RND
Listen to {param} in the App
Listen to TẠP CHÍ VĂN HÓA in the App
(171,489)
Save favourites
Alarm
Sleep timer
Save favourites
Alarm
Sleep timer
HomePodcasts
TẠP CHÍ VĂN HÓA

TẠP CHÍ VĂN HÓA

Podcast TẠP CHÍ VĂN HÓA
Podcast TẠP CHÍ VĂN HÓA

TẠP CHÍ VĂN HÓA

add

Available Episodes

5 of 24
  • Tạp chí văn hóa - Khải Hoàn Môn bọc vải : Nơi khởi nguồn sự nghiệp Christo-Jeanne Claude
    Trung tuần tháng 9/2021, sự kiện văn hoá nghệ thuật thu hút nhiều sự chú ý nhất tại Paris đó là tác phẩm « Khải hoàn môn bọc vải» của Christo-Jeanne Claude, từ ngày 18/09 đến ngày 03/10. Chỉ hiện hữu trong thời gian ngắn ngủi 2 tuần lễ, cũng như mọi lần, tác phẩm của cặp đôi cố nghệ sỹ danh tiếng lại làm dấy lên những tranh cãi gay gắt trong công chúng. Nhưng cũng vì thế, đây là cơ hội để những người quan tâm đến chiêm ngưỡng tác phẩm cuối cùng này, tìm hiểu lại sự nghiệp, đặc biệt là quãng thời gian Christo-Jeanne Claude sống tại Pháp, nơi đặt nền móng cho khuynh hướng sáng tác sau này của họ.  Paris - nơi khởi nguồn sự nghiệp                   Trốn chạy khỏi Bulgari năm 1956, Christo Vladimiroff Javacheff bỏ ngang việc theo học trường đại học Mỹ Thuật Sofia, nơi ông được đào tạo về mỹ thuật, điêu khắc và kiến trúc. Sau khi sang Praha (Tiệp Khắc), ông lần lượt tìm đến Vienna (Áo) rồi Thụy Sỹ. Sau cùng, Christo đến tị nạn ở Paris từ năm 1958 và bắt đầu sự nghiệp nghệ thuật ở đây. Ông bắt đầu cuộc sống chật vật, bằng nhiều việc làm tạm bợ, rồi vẽ tranh chân dung cho các gia đình khá giả, ký tranh với gia đình họ Javacheff. Cũng chính nhờ việc vẽ tranh này, ông làm quen với gia đình tướng De Guillebon danh giá, để rồi nhen nhóm tình yêu với Jeanne-Claude, cô con gái riêng đầy cá tính của bà Guillebon. Từ đó, cặp đôi sinh cùng ngày 13/06/1935 luôn sát cánh cùng nhau trên mọi bước đường thực hiện những dự án nghệ thuật chung. Từ năm 1994, các tác phẩm của họ đồng ký tên : Christo-Jeanne Claude.    Nhưng song song với vẽ tranh để kiếm sống, Christo còn tìm tòi con đường và dấu ấn nghệ thuật riêng, bằng việc thử nghiệm bọc mọi đồ vật thường ngày, treo kín trên các bức tường trong căn phòng trọ gác mái ở phố Saint-Sénoch, không xa Khải Hoàn Môn. Hướng sáng tác của ông nhanh chóng ngả theo trường phái hiện đại, giàu tính hình khối điêu khắc, tìm tòi các hiệu ứng trên các chất liệu như vải, nilon bằng cách gói bọc các đồ vật, người mẫu, tượng và dần phác thảo các ý tưởng quy mô lớn hơn trong không gian công cộng ... Trên những tác phẩm này, ông bắt đầu ký tên Christo. Vì thế, 6 năm sinh sống tại Paris là những năm tháng quan trọng, định hình phong cách cho cả sự nghiệp nổi tiếng thế giới, nhưng cũng gây nhiều tranh cãi, của cặp đôi Christo-Jeanne Claude.     Gói gém cả thế giới, hay tâm thế của kẻ tha hương ?   Được mệnh danh là « người muốn gói bọc cả thế giới », với những dự án đầy tham vọng và điên rồ, bao bọc những cảnh quan và công trình nổi tiếng, phong cách nghệ thuật của Christo bắt đầu từ việc bọc kín tất cả những vật dụng lớn nhỏ gần gũi quanh mình.    Ông đào sâu khai thác vật liệu mềm bao phủ, chủ yếu là vải, phát triển, tổng hợp để tìm kiếm những hiệu ứng, màu sắc, chất cảm, sức bền, đáp ứng từng ý tưởng trên các điều kiện địa hình, khí hậu đa dạng đặc biệt khắp thế giới. Những đường xếp li mềm mại của chất liệu vải là một yếu tố chủ đạo trong hội hoạ và điêu khắc, đặc biệt lôi cuốn Christo. Lột tả vẻ đẹp tinh tế của từng nếp vải vừa thể hiện tài năng của người nghệ sỹ tạo hình, vừa để giản lược, che giấu những chi tiết vụn vặt, đồng thời tôn lên những đường nét tiêu biểu khái quát nhất.  Với các tác phẩm của mình, Christo dùng vải để tạo sự đa dạng chất cảm và độ nổi khối cho bề mặt. Sự nhạy cảm và am hiểu vật liệu vải phần nào còn được lý giải bởi bối cảnh gia đình : cha ông từng là chủ một nhà máy dệt.    Về ý tưởng dùng vải bọc và dây cuốn kín mọi thứ, Christo nhắc đến khởi nguồn từ trải nghiệm của một người sống cuộc đời tha hương nay đây mai đó. Những vật dụng được bọc lại gợi nhớ những chuyến đi, khi người ta gói ghém đồ đạc, tài sản để mang theo. Trong khoảng thời gian nhất định đó, đồ vật được gói ghém tạm mất đi công dụng và biến thành một thứ khác (1). Để rồi, như với những kẻ du mục, tấm vải bọc lấy hành trang, khi tìm được nơi dừng chân, tấm vải lại mở ra, trở thành mái lều che chở, và đồ vật lại được trả lại chức năng vốn có.    Christo : « Bởi Paris là thành phố của nghệ thuật và văn hoá »   Trong những năm khởi đầu sự nghiệp ở Paris, Christo có triển lãm ở Đức các tác phẩm bọc vật dụng, đồ đạc. Ông cũng bắt đầu ấp ủ những phác thảo táo bạo tác động vào không gian công cộng và những công trình di sản lớn của Paris. « Tôi muốn làm những dự án tầm vóc hơn, những dự án liên quan đến nghệ thuật và văn hoá, bởi Paris không phải là một đô thị quân sự, tài chính, tôn giáo, mà là thành phố của nghệ thuật và văn hoá », Christo từng chia sẻ (2).    Những dự án quá táo bạo do người nghệ sỹ trẻ tuổi chưa mấy tiếng tăm đề xuất liên tục bị chính quyền Pháp từ chối. Hơn 6 năm sau ngày đặt chân đến Paris, Christo và Jeanne Claude rời nước Pháp sang Mỹ, tìm chân trời tự do hơn nữa, hòng kiếm tìm cơ hội thực hiện những giấc mơ nghệ thuật của mình. Nhưng dù xa châu Âu, hai người vẫn tiếp tục sáng tác và theo đuổi mong ước được thực hiện tác phẩm tại Pháp và không ngừng nghỉ tìm cách vận động các nhà chức trách cho phép họ thực hiện.    Sau nhiều thập kỷ vươn lên khẳng định, thương lượng và thuyết phục không mệt mỏi, sáng tác của Christo - Jeanne Claude cuối cùng cũng được có mặt ở Paris. Với các tác phẩm ở đây, họ đều chọn những công trình ở những vị trí tâm điểm văn hoá và giàu tính biểu tượng nhất. Ngoài hai tác phẩm được thực hiện, Christo còn có các phác thảo bọc vải hàng cây trên đại lộ Champs Elysée, hay bọc toà nhà Trường Quân sự Paris.   Vào năm 1985, Cầu Mới - Pont Neuf, cây cầu cổ nhất của thủ đô, vắt qua đảo Ile de la Cité trên sông Seine, được bọc bằng những nếp vải ánh vàng lấp lánh, là dự án đầu tiên đánh dấu sự trở lại của họ tại châu Âu. Còn dự án bọc vải Khải Hoàn Môn, được phê duyệt năm 2017, bị trì hoãn nhiều lần do bối cảnh dịch bệnh Covid-19, là tác phẩm cuối cùng ra mắt công chúng khi hai nghệ sỹ đã từ trần. Tuy nhiên, đây lại là một trong những ý tưởng đầu tiên của họ, ra đời cách đây tròn 60 năm tại Paris. Tìm về bản thể của sự vật    Bản phác thảo sơ khai năm 1962 gói kín toàn bộ Khải Hoàn Môn thành một khối chữ nhật, cuốn dây buộc chằng chịt. Sau này, khi tiếp tục nghiên cứu các phác thảo phối cảnh cắt ghép ảnh và vẽ tay mới, Christo mới chọn bọc với những nếp xếp li vải mềm mại, ôm trọn và tôn hình khối cơ bản của công trình. Những sợi dây buộc giản lược hơn, chỉ đủ nhấn nổi bật những đường nét cấu trúc. Phong cách này thống nhất trong các dự án bao bọc Pont Neuf và Reichstag - toà nhà Quốc Hội Đức. Để giải thích cho cách tiếp cận này, Christo nói: « Tất cả bị xoá nhoà, làm nổi bật những đường nét thuần tuý kiến trúc, là bản thể của sự vật » (3)    Bằng việc tìm cách bọc các công trình, ông đã khái quát hoá đường nét, để chắt lọc những mảng khối chủ đạo. Những sợi cáp níu giữ lớp vải bao bọc, đồng thời làm nhiệm vụ gợi lại những trục, cấu trúc chính. Nhờ đó mà sự giản lược chi tiết không làm mất đi vẻ đẹp của tỉ lệ, sự cân xứng của các mảng khối. Khi những chi tiết được lược bỏ, mọi sự chú ý sẽ hướng về hiệu quả thị giác của vật liệu vải, lớp áo tạm.   Chính Christo đã nhận định khi nói về tác phẩm bọc Cầu Mới - Pont Neuf ở Paris : « Người ta không còn nhìn thấy những chi tiết, những điêu khắc, chạm trổ (...) Nhưng chính vì thế, người ta muốn lại gần, chạm tay vào tấm vải, để tìm lại những chi tiết mà nó bao bọc. Bình thường chẳng ai có ý nghĩ chạm tay vào một bức tường, những phiến đá, hay những tấm kính toà nhà. Chính lớp vải tạo ra mối nối kết bằng xúc giác, bằng cảm nhận với chính sự vật đó ». (4)  Có lẽ để được trải nghiệm lại kinh nghiệm thị giác và xúc giác hiếm có này, được thêm một lần nữa chạm vào lớp vải óng ánh bạc, nhiều khách du lịch Đức đã sang Pháp trong hai ngày cuối tuần, chỉ nhằm mục đích được ngắm « Khải Hoàn Môn bọc vải » . Máy ảnh trên tay, ngắm nhìn tác phẩm trong ngày khai trương 18/09, một người phụ nữ đến từ Đức hào hứng kể lại với RFI Việt ngữ: « Tôi đã có mặt ở Reichstag, nó thật tuyệt vời, với chất liệu giống như thế này nhưng xám hơn. Chính vì thế tôi mới đến đây để được xem tác phẩm cuối cùng của Christo ».   Và ngay cả lần đầu được ngắm nhìn tác phẩm, nó vẫn có thể chạm đến tim những khách tham quan. Chị Kurtava Fidanka, người Bulgari sống tại vùng Paris, đã đến ngắm nhìn từ ngày dựng tác phẩm, rồi lại có mặt thật sớm trong ngày khai trương 18/09. Chị xúc động chia sẻ với RFI tiếng Việt : « Được biết tin có một nghệ sỹ gốc Bulgari rất nổi tiếng, quyết tâm thực hiện một tác phẩm như thế này, tôi xúc động đến tận tâm can (...) Khi tôi đến đây, đứng nhìn nó,  tôi đã bật khóc, nó thật có chất lượng. Tôi tự nhủ nếu ông ấy còn sống, có lẽ cũng như tôi lúc này, chắc ông ấy sẽ vỡ oà vì vui sướng. Ông ấy đã thực hiện được giấc mơ của mình. »  Thách thức những lối mòn tư duy và cảm xúc  Về những tác phẩm phát triển ý tưởng trên những tầm vóc lớn, tác động vào cảnh quan tự nhiên, toà nhà, cây cối, giới phân tích cho rằng ý đồ này tìm cách, trong một thời gian ngắn ngủi, đột ngột làm thay đổi những cảnh quan, công trình vốn đã vô cùng quen thuộc, thậm chí là biểu tượng của nơi chốn đó. Như một lẽ hiển nhiên, con người quen với sự bất biến của chúng và khung cảnh đến độ thờ ơ, thậm chí quên lãng chúng. Những tác phẩm táo bạo của Christo và Jeanne-Claude bất ngờ « chiếm dụng » và che giấu chúng đi.    Đó có thể bị cho là một sự thách thức ngược ngạo và điên rồ. Cũng như với tác phẩm bọc Pont Neuf cách nay hơn ba thập kỷ, « Khải Hoàn Môn bọc vải » lại khuấy lên những phản ứng sôi nổi của công chúng với những thái cực trái ngược, thậm chí gay gắt. Nhiều người chê trách các nghệ sỹ đã ích kỷ chơi đùa với những gì thiêng liêng và thân thuộc với họ, hoặc so sánh một gói bọc khổng lồ tối giản chi tiết, quá xấu xí so với công trình tuyệt tác mà nó bao bọc. Hay đơn thuần, người ta không hiểu mục đích và ý nghĩa. Thêm vào đó, khoản chi phí khổng lồ lên đến 14 triệu euro, ngay cả đều do hai nghệ sỹ chi trả mà không có nhà tài trợ, vẫn bị chỉ trích như một sự lãng phí.     Nhưng với những con mắt khác, điều thú vị của những tác phẩm kỳ công phù du này, chính là mục đích xáo trộn thị giác, đem đến một cái nhìn tươi mới về một khung quảnh quen thuộc, đánh thức người xem khỏi lối mòn trong cái nhìn về không gian đô thị, hoặc nhắc họ nhớ đến giá trị và vẻ đẹp của những gì thân quen đã đột ngột biến mất.   Trao đổi với RFI tiếng Việt, Elise Monceau, kiến trúc sư và nhà dàn dựng sân khấu, cho rằng: « Với tôi, các sáng tác của Christo đặt câu hỏi cho khái niệm « tác phẩm nghệ thuật », bởi đó không phải là một đồ vật người ta có thể di chuyển được, nắm bắt được. Nó là một cảnh quan được trình bầy lại (...) Khải Hoàn Môn khi khánh thành có thể được coi một tác phẩm nghệ thuật, nhưng rồi theo thời gian, nó hoà nhập dần vào không gian, công trình trở thành một bộ phận của cảnh quan đô thị. Việc làm mới nó thành một tác phẩm, là một cách, đem lại một tầm vóc khác cho công trình lịch sử này ».   Kiến trúc sư Monceau còn đưa ra một góc nhìn mới : « Mặt khác, hình ảnh một cái gì đó bị bao bọc lại, rồi sau đó lại sẽ được gỡ bỏ, gợi lại khái niệm của một tác phẩm nghệ thuật. Hành động sau đó gỡ bỏ tấm vải bọc được cảm nhận như công trình lại được cắt băng khánh thành một lần nữa »                                                   Chỉ là niềm hân hoan và cái đẹp để sẻ chia   Bao công sức có khi kéo dài hàng chục năm, kỹ lưỡng và sáng tạo trong từng chi tiết, hàng ngàn người miệt mài làm việc, với chi phí chóng mặt, chỉ để “phù phép” những tác phẩm trong hai tuần lễ ngắn ngủi, như thời gian của một niềm vui, một chuyến phiêu lưu, một niềm hạnh phúc, thường luôn hữu hạn. Như chính Jeanne Claude đã luôn nói : “Những tác phẩm của chúng tôi không để thương mại hoá,  nó không có ý nghĩa gì lớn lao, nó chỉ là niềm vui, là cái đẹp chúng tôi chia sẻ với quý vị, và sự ngắn ngủi của nó nhắc chúng ta hãy trân quý sống trọn vẹn từng thời khắc” (5).  Thủ đô Paris là nơi gặp gỡ, và ghi dấu các tác phẩm đầu tay của cặp nghệ sỹ vô danh thủa ấy. Một lần cuối, Paris chia sẻ với hai cố nghệ sỹ niềm vui thực hiện được giấc mơ thủa ban đầu. Dù tác phẩm tồn tại ngắn ngủi chỉ để góp cho đời một khoảnh khắc vui hữu hạn, nhưng sẽ để lại trong tâm trí mỗi người viếng thăm một kỷ niệm khó phai.   Giờ đây, sự nghiệp nổi tiếng thế giới của họ đã khép lại, bằng cách quay trở về toả sáng tại chính điểm bắt đầu. Như khúc ca khải hoàn ngày về, tại Khải Hoàn Môn lịch sử, giữa quảng trường Những Vì Tinh Tú.   Chú thích : (1) - (3) - (4) : Phóng sự tài liệu “ Christo-Jeanne Claude - nghệ thuật che dấu - nghệ thuật hé mở”, kênh truyền hình ARTE. https://www.arte.tv/fr/videos/101401-000-A/christo-jeanne-claude-l-art-de-cacher-l-art-de-devoiler/ (2) - (5) : Phỏng vấn do Michel Bousseyroux, Nicole Bousseyroux và André Ghighi thực hiện, New York, 29/10/2004. https://www.cairn.info/revue-l-en-je-lacanien-2005-1-page-159.htm
    9/24/2021
    9:29
  • Tạp chí văn hóa - “Kẻ trộm siêu thị” : Điều làm nên một gia đình
    Xin được mượn một câu thoại trong phim để mở đầu bài viết này: “Thường thì không ai được chọn bố mẹ. Nhưng khi được chọn thì sẽ khăng khít hơn, phải không?” Đó là lời nói của nữ chính trong bộ phim “Kẻ trộm siêu thị” (Shoplifters) của đạo diễn người Nhật Kore-eda Hirokazu. Vị đạo diễn này được mệnh danh là “thỏi nam châm hút giải thưởng” bởi phần lớn các tác phẩm của ông đều làm mưa làm gió tại các liên hoan phim ở Nhật cũng như trên thế giới. “Kẻ trộm siêu thị” không phải là một ngoại lệ khi một mình ẵm hàng chục giải từ Giải Viện Hàn lâm Nhật Bản, cho tới giải César cho “phim nước ngoài hay nhất” và vị trí cao quý nhất tại Liên hoan phim Cannes - giải Cành Cọ Vàng cho hạng mục “Phim hay nhất” năm 2018. Trong hầu hết các tác phẩm của mình, Kore-eda Hirokazu đều đề cập tới đề tài gia đình với câu hỏi lớn “Điều gì làm nên một gia đình?”. Ở đó, mỗi bộ phim là một góc nhìn - một câu trả lời khác nhau, mang những ý nghĩa khác nhau, và dù có khác đến mức nào thì tất cả cùng phản ánh chính xác sự tồn tại thực sự của con người. Cộng đồng nhỏ bé gồm 6 thành viên trong “Kẻ trộm siêu thị” là lớp người nghèo khó, gần như sống cô lập với xã hội. Họ có những cuộc đời bị xô đẩy vào ngõ cụt, bất hạnh dồn dập… nhưng có vẻ trong cuộc sống ngày nay, những điều này đã quá nhiều đến nỗi người ta dường như trở nên vô cảm với chúng.  Là một bộ phim thuộc thể loại chính kịch gia đình, “Kẻ trộm siêu thị”  toát lên trong nó những âm hưởng thật bình dị nhưng đầy cay đắng, khiến cho nhiều người xem đã phải thốt lên rằng “Tôi muốn khóc mà lại không thể, muốn gào thét nhưng lại không biết bắt đầu từ đâu”. Truyện phim kể về một gia đình sống bằng nhiều nghề, nhưng nghề chính là ăn cắp đồ dùng trong các cửa hàng tiện lợi bởi cuộc sống của họ quá nghèo khổ và khó khăn. Đó là Osamu Shibata và vợ là Nobuyo, bà Ngoại và Aki - cháu gái của bà, cậu bé Shota - con nuôi của vợ chồng Osamu và cô gái nhỏ Yuri - đứa bé được nhặt từ ngoài đường về. Điều gì làm nên một gia đình? Liệu đó có phải là cuộc sống với vật chất dư thừa như gia đình Aki, cháu của bà Ngoại - mà thật ra bà là vợ cả của ông nội Aki, họ không hề có cùng chung huyết thống? Nếu tiền bạc làm nên Gia đình thì sao Aki bỏ đi, tới sống với bà trong căn nhà lụp xụp chật hẹp tồi tàn thiếu thốn cùng những con người xa lạ? Ba mẹ cô có đủ gắn kết với cô không khi mà cô vẫn sống ở cùng thành phố còn họ lại nghĩ cô đang du học ở Úc châu? Liệu đó có phải là những người cùng chung máu mủ dưới một mái nhà tươm tất như gia đình của cô bé Yuri mới 5 tuổi với đầy những vết sẹo chi chít trên cơ thể và những lời chửi bới thậm tệ từ chính cha mẹ ruột của mình? Hay, cái làm nên gia đình chính là một nhóm người nghèo khổ gần như tận đáy xã hội nương tựa và ràng buộc với nhau bởi những lý do đầy uẩn khúc? Là một Osamu làm việc ngắn hạn ở công trường xây dựng. Là Nobuyo làm công nhân trong một xưởng giặt là. Là Aki trẻ người non dạ bị hấp dẫn bởi nghề múa khiêu dâm. Là bà Ngoại già móm mém ưa chơi game, chuyên gia vòi tiền từ con trai của vợ hai của chồng. Là cậu bé Shota tuổi teen vô tư tin rằng “chỉ những đứa trẻ không thể tự học thì mới phải đến trường” và ăn cắp trong siêu thị là vô tội vì “đồ trong siêu thị thì chẳng phải là đồ của ai cả”. Chỉ trong gần 9 phút đầu tiên, đạo diễn, đồng thời là tác giả kịch bản Kore-eda đã phơi bày tất cả không giấu diếm hoàn cảnh của cái gia đình kì lạ này. Phim mở ra là trò ăn cắp trong siêu thị của hai chú cháu Osamu và Shota. Trên đường trở về, họ bắt gặp cô bé Yuri ngồi ngoài hiên nhà giữa lúc trời bắt đầu chuyển lạnh. Cả hai nghĩ rằng không có người lớn ở nhà nên đã đưa Yuri về. Nobuyo nhất định không đồng ý giữ con bé lại vì lo sợ người ta sẽ nghi họ bắt cóc nó. Sau khi cho con bé ăn no, hai vợ chồng người cõng người bế Yuri mang trả lại cho cha mẹ bé. Nhưng, họ đã dừng khựng ngay bên ngoài cánh cửa. Cha mẹ Yuri đang đánh nhau, người mẹ hét toáng lên rằng chính cô ta cũng không muốn sinh ra con bé. Không chỉ những lời nói ấy, mà cả những vết sẹo trên thân thể Yuri khiến Nobuyo đau lòng. Là một người vợ mang nỗi đau không thể có con, Nobuyo quyết định giữ Yuri lại, đổi tên cô bé là Lai, coi nó như một thành viên mới. Thế là, gia đình họ là nơi mà tất cả mọi người chẳng ai có huyết thống với ai, nơi mà bữa ăn hàng ngày được coi như một chiến lợi phẩm, nơi mà họ cùng ăn, cùng ngủ, cùng sinh hoạt trong khoảng vài mét vuông nhưng lại có vẻ không hề thiếu thốn sự sẻ chia. Yêu thương hiện hữu Tất cả được xây dựng một cách chân thực và rất Đời, đúng như phong cách của tác giả, là để phản ánh chính xác sự tồn tại của con người. Những người lớn trong gia đình chắp vá ấy có thể là người tốt nhưng không Đẹp như những thiên thần có cánh. Họ vẫn có những phần ti tiện bị tạo ra bởi cái Nghèo. Bao nhiêu chi tiết là bấy nhiêu xúc cảm khán giả cảm nhận, vừa giận, vừa thương, vừa cảm thông thấu hiểu, lại vừa ước giá mà có ai đó giúp đỡ họ hoặc họ sẽ làm khác đi. Ấy là Aki thích thú với nghề múa khiêu dâm dù cô không hề thiếu thốn về mặt tiền bạc; cô còn tự giữ tiền cho mình, thi thoảng hai bà cháu đi ăn riêng những món ngon. Là lúc bà Ngoại mất vì tuổi già, vợ chồng Osamu đau buồn vì sự ra đi của bà nhưng vẫn hí hửng khi tìm được chỗ tiền bà cất giấu riêng. Là lúc Shota phải nằm viện, có nguy cơ bị cảnh sát phát hiện, họ vẫn cùng nhau bỏ trốn và bỏ rơi cậu bé. Là Osamu quyết định thêm nghề đập cửa kính ô tô để ăn cắp đồ… Họ rõ ràng là những kẻ vẫn đầy Tham - Sân - Si theo những lẽ riêng nhưng lại dành cho nhau sự yêu thương kì lạ mà ở trong những gia đình đầy đủ vật chất và chung dòng máu có lẽ ít khi hiện hữu. Thì ra, Shota là do hai vợ chồng Osamu nhặt được trước một tiệm chơi game, trong một chiếc xe ô tô mà chắc hẳn ai đó mải chơi đã quên mất cậu. Bao năm nuôi dưỡng thằng bé, cả hai chỉ mong cậu gọi một tiếng “Cha mẹ” nhưng Shota liên tục nói rằng chưa đến lúc. Chính vì cái khát khao ấy, bằng cả tình yêu của một người Mẹ, Nobuyo đã dành trọn sự quan tâm cho Yuri. Cái ngày mà cả nhà giữ con bé lại, Aki cắt tóc cho Yuri còn Nobuyo thì mang bộ đồ cũ của con bé ra đốt. Xung quanh là cả gia đình, Nobuyo ôm Yuri vào lòng, thì thào vào tai con rằng “họ đánh con không phải vì con hư. Nếu họ yêu con thì đây là điều họ phải làm”. Rồi cô ôm con bé chặt hơn, hôn hít nó, khiến nó cũng ôm lấy cô, vuốt bàn tay bé nhỏ lên má cô, lau đi những giọt nước mắt không rõ là đau buồn hay hạnh phúc. Càng về cuối phim, câu chuyện càng lúc càng được đẩy lên cao trào bằng sự “tỉnh ngộ” của cậu bé Shota trước hàng loạt những hành động mà cậu coi là không chuẩn mực của vợ chồng Osamu. Và cú sốc lớn nhất với Shota, dấy lên sự ân hận trong lòng cậu là khi cậu thấy một cửa hàng mà mình hay ăn cắp phải đóng cửa. Chưa hết, giọt nước làm tràn ly chính là lúc cô bé Yuri đi theo anh vào một cửa hàng nhỏ và bắt đầu ăn cắp đồ. Shota muốn ngăn cản em. Rõ ràng mọi thứ đã đi quá sức chịu đựng của cậu bé và việc cậu cố tình để bị bắt chỉ như một việc hiển nhiên. Tất cả vỡ òa, bao nhiêu bí mật của vợ chồng Osamu được tiết lộ, trong đó, có cả tội giết người. Thì ra trước đây, hai  người đã cùng nhau giết và chôn xác của chồng cũ của Nobuyo vì hắn hành hạ cô. Nobuyo nhận tất cả lỗi về mình để Osamu không phải ở tù. Shota được nhận vào một nhà tình thương, được đi học. Còn bé Yuri thì trở về với cha mẹ của mình. Nghe thì có vẻ như kẻ ác đã phải đền tội. Nhưng… nếu ai vẫn ngồi xem tới đoạn này của phim, thì hãy nán lại thêm chút nữa… Chỉ một chút nữa thôi… Sau hai tiếng đồng hồ vừa trải qua… ta sẽ thấy Shota thú nhận với Osamu rằng cậu đã cố tình để bị bắt, rồi cậu ngồi trên xe bus trở về nhà tình thương… thì Osamu chạy theo, liên tục gọi “Con”… Và ngay giây phút ấy… Shota đã nghẹn ngào lẩm bẩm từ “Cha”  trong nước mắt. Cũng chỉ một chút nữa thôi… chúng ta sẽ thấy cô bé Yuri sau khi được về với cha mẹ ruột thì lại lẩn thẩn chơi một mình ở hành lang bên ngoài căn nhà, không được ai chú ý, hát bài đồng dao mà cả gia đình không máu mủ kia đã từng hát với cô bé, chơi những viên bi mà anh Shota cho và chới với đứng lên ngó qua hàng rào… Một nhà tù vô hình… Một sự độc ác sẽ không bao giờ phải đền tội. Vậy ai? Ai là kẻ có lỗi trong tất cả những chuyện này? “Kẻ trộm siêu thị” với thủ pháp chậm rãi, góc máy tĩnh, lối kể chuyện dung dị, nhẹ nhàng, đưa đẩy cảm xúc của người xem, từ rung động, bật cười dí dỏm tới chua xót, sâu cay… đơn giản chỉ để chúng ta tự đặt ra câu hỏi “Điều gì làm nên một gia đình?”. Chắc hẳn chúng ta đều đã có câu trả lời của riêng mình.
    9/19/2021
    9:47
  • Tạp chí văn hóa - Marguerite Duras, văn chương của điều không viết ra
    "Con ruồi đã chết ở đó lúc ba giờ hai mươi." Ta nghĩ gì về một con ruồi đã chết, chết ở đó, chết vào lúc ba giờ hai mươi? Trong cuốn Viết, Marguerite Duras kể, khi bà chỉ vào con ruồi vừa chết và nói như vậy với cô Michelle Porte, người đến làm phim tài liệu, cô đã cười ngặt nghẽo, dù bà mỉm cười mong chuyện ấy chấm dứt, nhưng cô vẫn cười. Duras đã dành nhiều trang sách để mô tả lại tỉ mỉ và phân tích về cái chết của con ruồi mà bà đã chứng kiến. Đằng sau cái chết vô danh đó, nỗi đau cũng tương tự như cái chết của viên phi công trẻ người Anh trong chiến tranh, hay cái chết của hàng triệu người Do Thái trong thảm họa diệt chủng. Với Duras, cái chết của con ruồi mang tính tổng quát trên bản đồ chung của cuộc đời trên trái đất.  " Đó là một cuốn sách. Là một bộ phim. Là đêm tối. Giọng nói ở đây là giọng, được viết ra, ở cuốn sách. Giọng nói mù lòa. Không diện mạo. Trẻ măng. Lặng lẽ."  Những câu văn trên trong tiểu thuyết Người tình Hoa Bắc của Duras nói lên điều gì? Là thơ, là văn, là kịch bản phim hay chỉ là những từ ngữ đơn lẻ xếp cạnh nhau vô nghĩa? Có gợi hình, có gợi cảm, có mang câu chuyện nào đằng sau đó chưa được viết ra không?   Ta, người đọc, đôi khi có thể sẽ giống cô Michelle Porte, ta chẳng cảm nhận gì, hoặc chỉ thấy đó là những câu chữ tầm phào. Nhưng Duras đã viết trong cuốn Viết: "Có một thứ văn chương của cái-không-viết-ra. Một ngày nào đó nó sẽ đến. Một thứ văn chương ngắn gọn, không ngữ pháp, một thứ văn chương chỉ toàn các từ. Những từ không có ngữ pháp làm nền tảng. Lạc lối. Đó, những tác phẩm."  Điều này giống như họa sĩ người Pháp Pierre Soulages viết: "Tôi đã xóa bỏ hết những đường nét tươi đẹp của phong cảnh, chỉ giữ lại những vùng đá khoáng sa mạc, sự bao la nơi những đàn gia súc và con người biến mất, đá trập trùng giữa đá." (1) Soulages không chỉ xóa bỏ những đường nét tươi đẹp của phong cảnh, ông bỏ đi toàn bộ những màu sắc khác, chỉ giữ lại màu đen. Cách mà Duras đặt những câu văn ngắn gọn, không ngữ pháp, nơi ta chỉ thấy bề mặt thô ráp của ngôn từ, cũng giống như Soulages, họa sĩ bậc thầy của màu đen và ánh sáng, đã vẽ bằng cách chỉ đặt những nét cọ màu đen nằm cạnh nhau.  Marguerite Duras và phong trào tiểu thuyết mới  Nhắc đến Marguerite Duras không thể không nhắc đến phong trào tiểu thuyết mới ở Pháp vào đầu những năm 1950 đến những năm 1970, là khuynh hướng tiên phong trong việc mở đường cho văn chương đến với điện ảnh. Tiểu thuyết mới đã phá bỏ lối kể chuyện truyền thống, nơi câu chuyện chỉ có một tuyến tính, một dòng chảy của thời gian, ngôi kể chuyện cố định, tên người và xuất xứ nhân vật rõ ràng. Alain Robbe-Grillet là người đầu tiên đưa ra khái niệm tiểu thuyết-điện ảnh, chú ý đến cái nhìn, chú trọng bút pháp miêu tả bằng ngòi bút-camera, đưa văn bản viết gần gũi hơn với các phân cảnh điện ảnh, các chương được phân chia thành các đoạn văn ngắn không theo trật tự thời gian, giống kỹ thuật dựng phim trong điện ảnh. (2)  Đập ngăn Thái Bình Dương, Người tình và Người tình Hoa Bắc của Duras đều có chung đề tài Đông Dương, đều có bi kịch liên quan đến mảnh đất ngập mặn ở Cam Bốt mà người mẹ bị lừa mua. Đập ngăn Thái Bình Dương được viết năm 1950, tuy vào đầu thời kỳ của phong trào tiểu thuyết mới, nhưng vẫn mang dáng dấp của lối kể chuyện truyền thống. Năm 1984, Duras viết tiểu thuyết Người tình, sau gần 30 năm kể từ cuốn tiểu thuyết đầu tiên được bà viết theo phong trào tiểu thuyết mới là cuốn Le Square (1955), nghệ thuật viết của bà đã đi xa hơn rất nhiều so với những gì mà phong trào tiểu thuyết mới đã định nghĩa, giúp bà dành giải Goncourt với kỷ lục sách được bán ra là 1,63 triệu bản. Kỷ lục này vẫn đứng đầu danh sách tiểu thuyết đoạt giải Goncourt được bán ra nhiều nhất cho đến nay.  Ở những trang đầu của Người tình, Duras viết: "Tôi đã viết nhiều về những thành viên trong gia đình tôi, nhưng lúc bấy giờ họ đều còn sống, mẹ tôi và những người anh tôi. Và tôi đã đi vòng quanh họ, đi vòng quanh tất cả những điều này mà không thực sự nắm bắt lấy họ." Như vậy, Người tình đã đi sâu hơn, đã nhìn trực diện hơn, đã viết ra được nhiều hơn những điều không viết hoặc chưa thể viết ở những tiểu thuyết trước. Không đồng tình với đạo diễn Jean-Jacques Annaud trong việc chuyển thể tiểu thuyết thành phim, Duras đã viết lại Người tình theo lối thể nghiệm văn bản, vừa là tiểu thuyết văn học vừa là kịch bản phim. Năm 1991, tiểu thuyết Người tình Hoa Bắc đã được ra đời như thế. Tiểu thuyết sau không chỉ là sự tái cấu trúc về mặt phong cách so với tiểu thuyết trước, tác phẩm còn chứa đựng những điều mà Duras đã không viết ra ở tiểu thuyết trước.   Tiểu thuyết Người tình và Người tình Hoa Bắc  Người tình là một tiểu thuyết văn học chứa đựng nhiều ngôn ngữ điện ảnh như thể bản thân văn bản đã trở thành những thước phim giàu hình ảnh chạy qua tâm trí người đọc. Không gian, thời gian, ngôi kể chuyện, điểm nhìn của nhân vật được dịch chuyển tài tình, khiến cho mỗi trường đoạn nhỏ của tác phẩm giống như những mảnh mosaïque được Duras tỉ mỉ sáng tạo riêng biệt, rồi đặt chúng cạnh nhau trong trạng thái rất phiêu của cảm xúc, khiến chúng trở nên mềm mại, mơ hồ, không cần hiểu, không cần lý giải.  Nhịp điệu của sự dịch chuyển này ban đầu được kéo giãn ở những chương đầu của tiểu thuyết. Trường đoạn cô gái trên chiếc phà qua sông được viết theo dòng ý thức, khi suy nghĩ của nhân vật chảy như những nhánh sông nhỏ, lúc trải ra, lúc bện chặt lấy nhau, để rồi trở đi trở lại điểm mốc chính là khi cô đang đứng trên phà. Đồng thời, Duras đã dùng đồ vật để kể chuyện, dùng mũ, áo, giầy...để khéo léo hé lộ cho bạn đọc biết về hoàn cảnh gia đình và người mẹ.  Nhịp điệu dịch chuyển mỗi lúc một nhanh hơn, ở những chương gần cuối tác phẩm, các phân cảnh thay đổi liên tục, nhòe vào nhau, chồng chéo lên nhau. Một trường đoạn đẹp nơi hình ảnh đan xen vào nhau là cảnh xen kẽ chuyện tình của bà Lớn với một thanh niên ở Savana Khét, người trẻ hơn bà nhiều tuổi đã tự sát bằng một viên đạn, với chuyện tình của cô gái cùng chàng triệu phú người Tàu. Nhưng đẹp và xúc động hơn cả có lẽ là trường đoạn trong hành trình cô gái trên tàu về Pháp, nơi cô kể về một người thanh niên trẻ nhảy xuống đại dương tự vẫn trong đêm; rồi một đêm khác khi nghe tiếng nhạc Chopin vang lên dưới bầu trời được thắp sáng bởi những vì sao rực rỡ, cô đã định đứng lên với ý nghĩ sẽ gieo mình xuống biển cả; và bất chợt cô nghĩ về người tình Trung Hoa: "Nàng không chắc chắn rằng nàng đã không yêu chàng với một tình yêu nàng không nhìn thấy, bởi vì tình yêu đó đã đánh mất chính nó trong cuộc tình như nước trong cát."  Trong cả hai tiểu thuyết, Duras chỉ dùng tình yêu ấy làm nền để kể những câu chuyện khác. Người tình còn kể về tình yêu thương quá đà của mẹ cho người anh cả, mối quan hệ khắc nghiệt giữa cô gái và mẹ, tình yêu cùng huyết thống của cô với người anh thứ, phức cảm đồng tính của cô và cô bạn Hélène. Câu chuyện về mảnh đất bị ngập mặn ở Cam Bốt và sự bất nhân của người anh cả cũng là những tình tiết không thể bỏ qua. Cách kể chuyện của tiểu thuyết đi từ ngôi thứ nhất, sang ngôi thứ ba, sang ngôi người kể chuyện trung tính như trong kịch bản phim. Không gian trong tiểu thuyết còn được dịch chuyển sang Pháp ở giai đoạn sau khi gia đình đã rời Đông Dương còn thời gian luôn được đo bằng tuổi của cô bé.  Người tình Hoa Bắc đã hé lộ thêm những điều Duras chưa nói hết ở Người Tình, hoặc có thể, những điều viết thêm ra chỉ là tưởng tượng để bà có cơ hội được xoa dịu và nguôi ngoai đi những nỗi đau. Những điều viết thêm này như những cành cây trổ thêm nhánh, nơi xuất hiện thêm nhân vật Thanh và cộng thêm một tình yêu nữa của cô gái với nhân vật này. Không gian ở Pháp không được nhắc đến, thời gian chính xác bắt đầu câu chuyện vào năm 1930, nhưng những mối quan hệ tình cảm giữa các nhân vật trở nên chồng chéo và phức tạp hơn. Phức cảm đồng tính rõ hơn khi Hélène được xuất hiện nhiều hơn. Mảnh đất ngập mặn ở Cam Bốt và người anh cả cũng được đẩy ra làm phân cảnh chính, được đặt lên bàn để làm cuộc trao đổi về tiền bạc rõ ràng hơn. Cô gái, đã thực sự làm tình với người anh thứ của mình.  Người tình Hoa Bắc có thể như một sự thèm khát được giải đáp cho một câu hỏi, một niềm hy vọng hoặc một sự xoa dịu về tình mẫu tử giữa cô gái và mẹ. Đó là điểm quan trọng khác biệt nhất trong nội dung giữa hai tiểu thuyết. Ngay từ đầu, cô gái tha thiết hỏi mẹ tại sao mẹ lại yêu người anh cả như thế, mà chẳng bao giờ yêu cô và người anh thứ. Cô đã khóc về sự bất công khủng khiếp mà mẹ cô là nạn nhân trong sự lừa gạt của bọn người da trắng ở sở địa chính Pháp. Cô thương mẹ. Còn người mẹ cũng tỏ tình cảm với cô gái nhiều hơn qua lời nói, cử chỉ, hành động và đặc biệt bà đã quyết định tách rời người anh cả từ rất sớm để bảo vệ hai đứa con còn lại.  Trong những mối quan hệ yêu đương chằng chịt và những phức cảm nội tâm của nhân vật, ta có cần phải hiểu sâu xa đằng sau những mối quan hệ này thực chất ai yêu ai không? Hay những nhân vật Duras tạo ra chỉ là những ảo ảnh trong tâm trí bà được hắt lên tấm màn chiếu, như muốn viết ra những ẩn ức sâu xa của nhân vật trong tiểu thuyết hay của chính mình, đã phải chịu đựng những tác động và hậu quả từ bối cảnh sống, từ hiện thực.  Duras cho rằng, nỗi đau là thứ mà chúng ta không thể viết về nó một cách trọn vẹn nên khi không thể đi thẳng vào nó, người ta sẽ đi lòng vòng quanh nó. Các nhân vật cũng vậy, những cái tôi bị tổn thương và bị đè nén sẽ trổ những nhánh cây khác tạo nên những phức cảm nội tâm. Vì thế, tình yêu, nỗi đau, niềm khao khát thường được ẩn sâu hơn bên dưới lớp vỏ của ngôn từ. Đằng sau nỗi đau và thân phận con người, là hiện thực, chính là hiện thực mà Duras muốn nói đến.  Kết Duras viết trong tác phẩm Viết:  "Văn chương, nó đến như cơn gió, nó trần trụi, nó là mực viết, nó là điều được viết ra, và nó trôi qua như không có bất kỳ điều gì khác trôi qua trong đời, không gì hơn, ngoài nó, cuộc sống." Những điều ta thấy qua văn chương là những điều được viết ra, những điều có thể kể lại, và kể đi kể lại một câu chuyện, bằng nhiều cách khác nhau, thêm vào, bớt đi, trực diện hoặc né tránh, kể thật hoặc tưởng tượng, hoặc hoang tưởng, hoặc phân tách thành nhiều cái tôi trong vô thức, trong chấn thương, trong ẩn ức bị kìm nén. Còn trong cuộc đời, những nỗi đau câm lặng mà con người phải chịu đựng, đôi khi là những điều không được viết ra, hoặc không thể viết ra. Chính điều đó, một lần nữa Duras khẳng định trong tác phẩm Viết: "Viết văn cũng là không nói năng gì, là im miệng, là gào thét không thành tiếng". Điều này đã làm nên văn chương của điều không viết ra. Cô đơn, để rồi viết. Viết trong cô đơn. Viết nhưng không thể nói hết. Cô đơn, càng cô đơn sau khi viết, và vì thế nhà văn viết, viết mãi.  Chú thích:  (1) Pierre Soulages, Những phát ngôn về nghệ thuật. Fage éditions 2017. (2) Khuynh hướng tiểu thuyết - Điện ảnh trong Văn học Pháp thế kỉ XX, Trần Hinh.  https://bitly.com.vn/c6bn5c Những câu văn, đoạn văn in nghiêng trong bài được trích từ các tác phẩm: Viết, Marguerite Duras, Trần Văn Công dịch. Nhã Nam và NXB Văn học năm 2010. Người tình, Marguerite Duras, Lê Ngọc Mai dịch, Nhã Nam và NXB Văn học năm 2007.  Người tình Hoa Bắc, Marguerite Duras, Lê Hồng Sâm dịch, Bách Việt và NXB Văn Học, năm 1991.
    9/17/2021
    9:41
  • Tạp chí văn hóa - Linda Lê: "Văn chương là quê hương, vì máu là từ mực"
    Trong cuốn Chống lại Sainte-Beuve, Marcel Proust đã chỉ trích Sainte-Beuve không nhìn thấy vực sâu chia cắt giữa con người nghệ sĩ với con người xã hội, không hiểu rằng cái tôi của nhà văn chỉ hiện diện trong tác phẩm, không phải trong những cuộc chuyện trò với người khác. Proust cho rằng văn chương, điều khi nhà văn viết trong cô đơn khác với chuyện kể trong lúc hàn huyên, bởi cái tôi bề ngoài cất tiếng nói khi có sự hiện diện của người khác, còn cái tôi sâu lắng khi ở một mình mới là điều mà người nghệ sĩ muốn đạt tới. Theo Proust, không thể đồng hoá tác phẩm với con người bề ngoài của tác giả, qua lời kể của bạn bè hay qua thư từ. Sainte-Beuve đi từ đời tư tác giả để giải thích tác phẩm, còn Marcel Proust đi từ tác phẩm để tìm tới tác giả. (1) Linda Lê, với tiểu thuyết Œuvres Vives, viết năm 2014, đã làm việc ngược lại với Proust, là viết một tác phẩm trong đó kể về một nhà báo điều tra về cuộc đời của nhà văn mới tự tử, Antoine Sorel, thông qua việc tìm gặp những người thân, những người quen biết nhà văn. Nhân vật nhà báo, người tiến hành cuộc điều tra, cùng lúc đã đọc rất nhiều tác phẩm của nhà văn này, nhưng người đọc, là chúng ta, tuyệt nhiên không biết gì về nội dung những cuốn sách ấy. Điều ta biết khi đọc tác phẩm Œuvres Vives là câu chuyện về cuộc đời riêng tư của Antoine Sorel, thông qua lời kể của nhiều người khác nhau. Linda Lê chia sẻ rằng, nội dung những cuốn tiểu thuyết của Antoine Sorel được ẩn đi, vì theo bà, người đọc vẫn luôn đồng hành cùng người viết để hoàn thiện tác phẩm trong quá trình đọc. Vì vậy, thông qua việc dựng lên chân dung của một nhà văn, bà muốn để người đọc tưởng tượng và hình dung về những cuốn sách mà người ấy sáng tác. (2) Linda Lê cũng giải thích về tiêu đề của tác phẩm: "Thông thường, người ta gọi "Œuvre vive" là phần chìm dưới mặt nước của một chiếc tàu. Đó là bộ phận mà chúng ta không trông thấy, vì nó khuất dưới mặt nước. Ngược lại "Œuvre morte" là phần ở bên trên mặt nước. Cái gì nhìn thấy là phần "chết", còn phần "sống" lại là cái gì không trông thấy…Thế rồi ở đây tựa cuốn sách này cũng gợi lên ý tưởng là những tác phẩm của Sorel tiếp tục sống mãi cho dù ông văn sĩ đã về cõi vĩnh hằng." (3) Tác phẩm Œuvres Vives được dịch ra trong tiếng Việt năm 2018 với tựa đề Vượt sóng có thể chưa thật chuẩn với nội dung tiểu thuyết và ý đồ của Linda Lê.  Đọc Linda Lê, rất khó tách bạch sáng tác khỏi cuộc đời bà, hệt như Patrick Modiano đã dùng chất liệu đời mình để nhào nặn nên tác phẩm văn chương. Nhà văn Đinh Linh, trong lời đề từ tiểu thuyết Tiếng nói của Linda Lê xuất bản năm 2017 tại Việt Nam, cũng thừa nhận Linda Lê chịu ảnh hưởng của một số nhà văn Tây phương nhưng ảnh hưởng lớn nhất tới sáng tác của bà là ảnh hưởng của lý lịch và bà đã thừa hưởng những bất hạnh của một dân tộc chịu nhiều bất hạnh.   Những đề tài trong tiểu thuyết của Linda Lê  Người chết, người điên, người viết, người đọc, người tha hương khỏi ngôn ngữ và quê hương và người tha hương trong những cuộc tình, là đề tài chính trong các tác phẩm của Linda Lê.  Thư chết, Sóng ngầm, Œuvres Vives, In memoriam...là những tác phẩm của Linda Lê mở đầu bằng cái chết, trong đó, trừ tác phẩm Thư chết nói về cái chết của người cha, những tác phẩm còn lại đều là cái chết của nhà văn. Lại chơi với lửa là tuyển tập truyện ngắn sáng tạo về ngôn từ và hình ảnh, đầy ẩn dụ và mê hoặc, ám ảnh và bạo liệt những câu chuyện về người đọc và người viết, nơi từ ngữ tách ra khỏi trang sách, nhảy vọt lên cắn vào cổ người đọc, nơi lọ mực lên tiếng xúi giục người viết cầm dao đuổi theo đâm chết tên độc tài, nơi một người khách từ trong bản thảo bước ra khi một tác phẩm hoàn thành.  Nhân vật trong các tác phẩm còn lại của Linda Lê đều là những người đọc và người viết. Mở đầu tiểu thuyết Cronos là hình ảnh một người đàn ông mải đọc sách trên băng ghế dưới chân một ngọn đèn, quên mất giờ giới nghiêm nên bị một tên lính nện báng súng vào đầu. Ông ngã xuống với khuôn mặt đẫm máu khi trong tay vẫn ôm chặt cuốn sách. Thư chết và Vu Khống là hai tác phẩm đều nhắc đến một người cậu bị điên và cả hai người điên này đều sống trong sách vở. Đặc biệt, người điên trong Vu khống sống trong bệnh viện, học tiếng Pháp từ những cuốn tiểu thuyết văn chương của một bác sĩ đưa cho anh, và chính những cuốn sách ấy đã cứu rỗi anh. Nhân vật cháu gái trong Vu khống, nhân vật Văn và Ulma trong Sóng ngầm, nhân vật Sorel trong Œuvres Vives cũng là những người đọc và người viết. Qua lăng kính của Linda Lê, họ là những người tha hương khỏi cuộc đời này: "Tôi sáng tác những câu thơ kinh khủng, chỉ để nói rằng cuộc sống không thực sự ở đây. Tôi cũng viết nhật ký, chỉ để nói rằng tôi không tìm thấy chỗ của mình trong thế giới này." (4) Tha hương là đề tài trở đi trở lại trong tác phẩm của Linda Lê: tha hương về địa lý, tha hương trong ngôn ngữ, trong đời sống và sáng tác, đặc biệt là tha hương bên lề cuộc đời người khác, trong gia đình và trong những cuộc tình. Nhân vật trong tác phẩm của Linda Lê bị bật rễ khỏi quê hương, gia đình và những người yêu quý. Các mối quan hệ cha mẹ, con cái trong tác phẩm Sóng ngầm, Œuvres Vives hầu như không có mối quan hệ mật thiết, xa cách về tư tưởng, ngôn ngữ và văn hóa, thậm chí xung đột gay gắt. Đặc biệt, Linda Lê luôn tạo các mối tình tay ba, các mối tình ngoài luồng trong tác phẩm của mình. Trong Vu Khống có một chi tiết Linda Lê đã so sánh tình cảm của một người đứng bên lề cuộc đời người khác, giống hình ảnh của một người tha hương bên lề đất nước không phải quê hương nguồn cội mình.  Lưu đày ngôn ngữ cũng là một ám ảnh trong sáng tác của Linda Lê, như bà từng viết: "Viết trong một ngôn ngữ không phải của mình, là làm tình với một thây ma." (5) Thế giới của người ở bên rìa tất cả  Linda Lê cũng xuất bản nhiều tập tiểu luận vinh danh những nhà văn tha hương, những người viết bằng ngôn ngữ khác, nơi bà tìm thấy nhiều sự đồng cảm và có những người đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự nghiệp văn chương của bà như: Tu écriras sur le bonheur năm 1999, Marina Tsvetaieva, ça va la vie? năm 2002 và Par ailleurs (exils) năm 2014.   Tác phẩm Sóng ngầm của Linda Lê xây dựng hai nhân vật kỳ lạ. Hai người Pháp gốc Việt, anh em cùng cha khác mẹ, đã tìm thấy nhau tại Pháp, và bắt đầu một mối tình, không chỉ là mối tình tay ba nơi người chồng ngoại tình, mà còn là mối tình loạn luân cùng huyết thống. Nhưng họ không cưỡng lại được sự hút nhau, như thể việc chung quê hương nguồn cội và tiếng nói đã giúp họ chạm vào được phần sâu thẳm bên trong mình. Lần đầu tiên nói "yêu em" trong tiếng Việt đã khiến Văn, nhân vật trong tác phẩm, có được cảm giác hạnh phúc lạ kỳ. "[...] không phải chúng tôi cùng cha sinh ra mà bởi trong sâu thẳm chúng tôi là những kẻ ngoại cuộc, tôi không biết xứ nào là quê hương, em có nhiều danh tính mà không cái nào làm điểm tựa. Cùng ở vị thế lập lờ, cả hai chúng tôi đều như những kẻ mất hồn [...]. Tôi thấy ngọt ngào làm sao khi thốt "yêu em" với Ulma bằng thứ tiếng ba mươi năm nay tôi không còn nói nữa và lại có vẻ thật du dương. Không có Ulma tôi đã không nối lại với thứ, nơi tôi, còn rơi rớt, dù ít ỏi chừng nào, của phương Đông. Tôi bị xáo động tột cùng." (6) Hãy để ý đến một điểm chung của tất cả những người chết, người điên, người viết, người đọc, người tha hương trong tác phẩm của Linda Lê. Đây là những người luôn sống ở bên rìa của tất cả, nơi thuộc về những tròng trành, nơi thuộc về vùng đất của no man's land, như trong tiểu luận Tròng trành mà Linda Lê đã viết. "Tôi yếu lòng bảo vệ tính tiểu thuyết và chưa làm sáng tỏ bí ẩn của sự chuyển hóa những tròng trành, rách xước và tang thương thành những từ ngữ mà ta ráng, trong một sự ương ngạnh hung cuồng, lấy dao trổ khắc." (7) No man's land, từ mà Linda Lê đã dùng trong tiểu luận trên một lần nữa gợi nhắc về Patrick Modiano, ngay cả cách Linda Lê dùng tên các địa danh và dữ liệu đời thực đưa vào tác phẩm làm ta nghĩ đến ông, nhưng thế giới của Linda Lê là thế giới gần như đối lập, không u sầu thơ mộng như trong thế giới của nhà văn của giải thưởng Nobel 2014. Thế giới của Linda Lê luôn được đẩy đến mọi thái cực, quyết liệt, đen tối, kỳ dị, bất thường, điên loạn...dù văn phong có sự thay đổi qua các thời kỳ nhưng ngôn từ không thôi bùng cháy. "Tôi thích sự bùng cháy của ngôn từ, rằng những cuốn sách là ngọn lửa rực cháy." (8) Bóng dáng cuộc đời trong tiểu thuyết Trong sự nghiệp sáng tác của mình, càng ở những tác phẩm sáng tác về sau, ngòi bút của Linda Lê càng trở nên điêu luyện trong cách kể chuyện bằng nhiều giọng kể. Nếu như Tiếng nói (1988) và Thư chết (1999) chỉ là những độc thoại nội tâm của một giọng kể duy nhất, nơi người ta dễ dàng có thể nhận thấy đó là tiếng lòng sâu thẳm và day dứt nhất của Linda Lê sau những năm tháng mất cha, thì trong Sóng ngầm (2012) và Œuvres Vives (2014), Linda Lê đã một mình phân thân mình thành nhiều mảnh và hóa thân mình trong nhiều nhân vật, thể hiện sự lao động sáng tạo bền bỉ trong ngôn từ và trí tưởng tượng. Sóng ngầm là bốn giọng kể trực tiếp của bốn nhân vật khác nhau còn Œuvres Vives là nhiều giọng kể gián tiếp của nhiều nhân vật khác nhau. Bóng dáng cuộc đời cá nhân của Linda Lê dường như vẫn hiện diện sắc nét trong tất cả các tác phẩm nhưng rõ ràng đó là những tiểu thuyết văn chương hư cấu nơi Linda Lê theo nhiều cách đã luôn tìm cách trao tiếng nói cho một người vừa mới qua đời. Linda Lê như người bị vỡ thành trăm mảnh và bà đã nhặt từng mảnh vỡ và đặt mỗi mảnh nhỏ vào một nhân vật, và trong những cuốn tiểu thuyết khác nhau, dù mỗi nhân vật đều có giới tính, tính cách, đời sống, giọng nói riêng khác nhưng ta đều thấy Linda Lê ở đó.  Có thể nói văn chương Linda Lê thuộc dòng văn học chấn thương như Anna Gotlib phân tích trong tiểu luận Chấn thương và chuyện kể: "Chấn thương châm ngòi cho tự sự. [...] Những gì nó có thể làm là trở thành chất xúc tác cho nhiều câu chuyện khác nhau – những câu chuyện sâu sắc hơn về việc chúng ta là ai, chúng ta có giá trị như thế nào và làm sao chúng ta có thể sống “sau” chấn thương. Chúng là câu chuyện về sự kiến tạo ý nghĩa, làm lại ý nghĩa [...] mở ra những khả năng cho việc tái tạo các câu chuyện, [...] tích hợp một số những kinh nghiệm tệ hại nhất của mình vào trong những câu chuyện không ngừng được mở ra về chính bản thân mình.” (9) Linda Lê sinh năm 1963 tại Đà Lạt và lớn lên tại Sài Gòn. Cha bà là một kỹ sư Bắc Việt còn mẹ xuất thân từ một gia đình khá giả có quốc tịch Pháp. Thuở nhỏ, khi còn ở Việt Nam, Linda Lê đặc biệt gắn bó với cha về tình cảm nhưng xa lạ với tiếng Việt và văn hóa Việt. Không có nhiều sợi dây liên hệ tinh thần với mẹ nhưng Linda Lê được mẹ cho học trường tiếng Pháp, rất say mê và am hiểu văn chương Pháp. Năm 1977, Linda Lê cùng mẹ và các chị em rời Việt Nam định cư tại Pháp, để lại người cha ở lại Việt Nam. Linda Lê liên lạc với cha qua những lá thư, ngầm đặt cha mình là độc giả tưởng tượng khi viết văn. Năm 1995, cái chết của người cha đã để lại nhiều day dứt và chấn thương trong lòng bà, khiến bà thậm chí có những khoảng thời gian rơi vào trầm cảm. Đó cũng là lý do vì sao đề tài về một người cha đã mất luôn lặp đi lặp lại trong tác phẩm của bà.  Hơn một lần, trong tác phẩm cũng như trong trả lời phỏng vấn, Linda Lê đều viết mình không biết nơi đâu là nhà, bất cứ chốn nào cũng xa lạ, ở quê hương nguồn cội, ở đất nước mình đang sống, ở giữa mọi người và ở trong cuộc đời. Sola trong In memoriam và Sorel trong Œuvres Vives là hai nhà văn trong tác phẩm của Linda Lê, đều chọn con đường tự tử để kết thúc cuộc đời. Dường như văn chương không thể cứu rỗi cuộc đời họ. Nhưng với Linda Lê, văn chương không chỉ cứu rỗi, văn chương còn giúp bà được chữa lành, được xoa dịu, được học hỏi và được lớn lên từ đó. (10) Linda Lê cũng nhiều lần khẳng định văn chương chính là Tổ quốc mình. Bởi thế, nhà phê bình Brigitte Lannaud Levy đã viết, với Linda Lê, ”văn chương là quê hương vì máu là từ mực”. (11) Trích nguồn:  (1) Phê bình cũ - phê bình mới, Phê bình văn học thế ký 20, Thụy Khuê: http://thuykhue.free.fr/PBVH/Chuong03-PheBinhCuMoi.html (2) Linda Lê trả lời phỏng vấn tại hiệu sách La Galerne:  https://www.youtube.com/watch?v=p3DBmaDl8Fg&t=326s (3) "Œuvres Vives", tâm trạng cô đơn của kẻ lưu đày, Tạp chí văn hóa RFI Tiếng Việt năm 2014:  https://www.rfi.fr/vi/viet-nam/20141024-oeuvres-vives-tam-trang-co-don-cua-ke-luu-day (4) Vượt sóng, Phạm Duy Thiện dịch từ nguyên tác "Œuvres Vives", Công ty cổ phần Sách Tao Đàn và NXB Hội nhà văn, năm 2018. (5) Linda Lê : de l'exil du langage au langage de l'exil, Thi Thu Thuy Bui: https://www.academia.edu/23953392/Linda_L%C3%AA_de_lexil_du_langage_au_langage_de_lexil (6) Sóng ngầm, Hồ Thanh Vân và Bùi Thu Thủy dịch từ nguyên tác Lame de fond, Nhã Nam và NXB Hội nhà văn, năm 2018.  (7) Tiểu luận Tròng trành của Linda Lê, Hồ Thanh Vân dịch đăng trên tạp chí của Nhà xuất bản độc lập Ajar: http://www.ajarpress.com/Project-DetailVi.aspx?ProjectId=181 (8) Linda Lê : “J'aime que les livres soient des brasiers“, Marine Landrot, 2020 https://www.telerama.fr/livre/linda-le-j-aime-que-les-livres-soient-des-brasiers,59204.php (9)  Anna Gotlib – Chấn thương và chuyện kể, Hải Ngọc dịch https://hieutn1979.wordpress.com/2021/01/03/anna-gotlib-chan-thuong-va-chuyen-ke/ (10) Linda Lê trả lời phỏng vấn Mediapart, thực hiện bởi Dominique Conil và Yannick Sanchez: https://www.youtube.com/watch?v=mco7JdliulE (11) "Sang d’encre", Brigitte Lannaud Levy: https://www.onlalu.com/livres/roman-francais/oeuvres-vives-linda-le-le-8647/
    9/12/2021
    10:49
  • Tạp chí văn hóa - « Cuộc đính hôn lâu dài » : Những sắc màu tương phản khó phai
    Không lâu sau tác phẩm điện ảnh kinh điển “Cuộc đời tươi đẹp của Amélie Poulain”, đạo diễn Jean Pierre Jeunet, một lần nữa, lại đạt tới những thành công vang dội cùng “Cuộc đính hôn lâu dài” vào năm 2004 với 12 đề cử César (giành 4 giải) và 2 đề cử Oscar. Bộ phim được liệt vào dạng chủ đề lãng mạn chiến tranh, hư cấu một câu chuyện về sự tìm kiếm gần như tuyệt vọng của một người phụ nữ trẻ tên Mathilde với chồng chưa cưới của cô là Manech, người có thể đã bị giết chết trong thời gian chiến tranh thế giới thứ I, ngay trước trận Somme. Để rồi từ những tìm hiểu và điều tra của Mathilde, rất nhiều sự thật, nhiều cảnh huống về cuộc chiến và cả số phận những người trong và ngoài cuộc được phơi bày. Dựa theo cuốn tiểu thuyết cùng tên của tác giả Sebastien Japrisot, xuất bản năm 1991, nhưng “Cuộc đính hôn lâu dài” đã tạo nên một dấu ấn riêng, gần như đứng độc lập được với tác phẩm gốc, bởi bức tranh đặc sắc mà Jeunet đã vẽ nên. Trong suốt hơn 2 tiếng đồng hồ, người xem như được chiêm ngưỡng một tuyệt phẩm với đầy những sắc màu tưởng như tương phản, nhưng lại vô cùng đồng điệu và hòa quyện vào nhau. Bộ phim với khối lượng nhân vật khá nhiều, vặn xoắn, các tình tiết thay đổi liên tục, đưa đẩy khán giả từ phán đoán này tới phán đoán khác, lúc vui, lúc buồn cùng hành trình đi tìm người yêu của Mathilde để rồi cuối cùng, tất cả thở phào khi, như một câu chuyện cổ tích, nó đã có một Happy Ending đúng nghĩa. Chiến tranh nhuốm màu đen tối      Cho dù ở đâu hay vào thời điểm nào hay đối với bất cứ dân tộc nào thì chiến tranh luôn mang màu sắc đen tối nhất. Mở đầu phim, Jeunet đã đẩy người xem tới chiến trường Bingo Crépuscale ác liệt, với hình ảnh xác một người lính bị xé làm nhiều mảnh, với mưa bùn ngập ngụa, khói của khí độc và năm người lính Pháp đang trên đường bị đưa đi xử tử. Họ bị buộc tội đào ngũ. Đó là một người thợ mộc đa tình, một anh thợ hàn thẳng tính luôn muốn thức tỉnh người khác rời khỏi cuộc chiến, một nông dân dũng cảm cứng cỏi nhất, một gã ma cô thành thị giỏi lừa đảo dối trá và cuối cùng là Manech, anh chàng mới bước qua tuổi 20, làm nghề đánh chuông ở nhà thờ. Tất cả họ đều, một cách vô tình hay cố ý, làm mình bị thương để rời khỏi cuộc chiến càng nhanh càng tốt. Cái cuộc chiến mà với họ và với cả những người khác là thứ nhuốm màu tối thẫm vô vọng, là những bữa ăn như cám heo và là thân thể đồng đội nổ tung reo rắc khắp các chiến hào. Nhưng họ không bị xử tử như một quân nhân, mà lại bị đẩy ra ngoài nơi mà người ta gọi là “No man’s land”, là vùng đất ranh giới giữa hai chiến tuyến của Pháp và Đức. Sĩ quan cấp trên của họ, Lavrouye, cảm thấy vui vẻ hơn, nếu họ bị quân Đức săn đuổi và bắn nổ tung như pháo hoa. Lại thêm một dải màu đen được phơi bày ở đây, đó chính là sự phi nhân đạo trong một bộ phận những người cầm đầu, những kẻ ăn trên ngồi trốc, chưa từng ra trận, chưa từng chịu cơn đói khổ cùng cực và cái chết cận kề, ngay cả khi cuộc chiến đang ở vào giai đoạn khốc liệt nhất. Cũng chính là Lavrouye đã xé đi quyết định tha bổng của tổng thống dành cho năm người lính khốn khổ ngay sau đó, đẩy họ vào tận cùng tuyệt vọng. Chẳng có một lý do chính đáng nào được đưa ra cho hành động của vị sĩ quan này, ngoài câu “thích thì làm”.         Đau đớn nhất là biết bao mưu mô toan tính để thoát khỏi cuộc chiến đều không thành, kể cả khi, bạn thân của anh chàng thợ mộc Bastoche sẵn sàng đưa vợ mình vào tay Bastoche, cố gắng để vợ có thai đứa con thứ 6 và anh ta sẽ được trở về nhà. Nhưng người vợ không những không có thai mà trớ trêu thay, cô còn nảy sinh tình cảm với Bastoche và phản bội chồng theo đúng nghĩa. Cuộc chiến đã khiến cho những mất mát của họ không chỉ là mất đi một phần cơ thể, mà còn là một phần của trái tim với biết bao tổn thương ghi dấu mãi mãi. Màu xanh hi vọng Xen lẫn vào giữa những tối đen ấy là vài giây phút lóe lên màu xanh hi vọng, dù còn yếu ớt nhưng đủ để khán giả có thể nhìn thấy sự Yêu thương. Đó là lúc Manech được đầu bếp của đội “phục vụ” món bánh mì tẩm mật ong nướng cùng bát chocolate trắng thượng hạng trước khi bị đẩy ra vùng đất “No man’s land”. Là lúc ngay giữa cuộc chiến căng như dây đàn, máy bay địch lượn vòng vòng trên trời và những nòng pháo chĩa thẳng về phía quân đội Pháp, Manech vẫn kiên nhẫn khắc lên cái cây duy nhất còn đứng vững giữa chiến trường ba chữ M, có nghĩa là “Mathilde cưới Manech”. Khát khao được trở về, khát khao Yêu và Được Yêu có lẽ là động lực vô hình giúp chàng trai trẻ vượt qua tất cả những gì là điên cuồng nhất của cuộc chiến.  Để rồi, một màu xanh thật sự tràn qua phủ lên thứ rêu hi vọng, khi Mathilde nhận được tin Manech đã chết và cô hoàn toàn không tin vào điều đó. Đến đây, khán giả cảm thấy một Amélie Poulain khác, cũng với vai diễn tuyệt vời của nữ diễn viên Audrey Tautou, nàng thơ của điện ảnh Pháp, trong vai một đứa trẻ mồ côi có tật nói chuyện một mình và một bên chân tập tễnh vì hậu quả của bệnh bại liệt. Vẫn với đôi mắt to, long lanh, sáng bừng hi vọng, Mathilde chưa bao giờ ngưng tin tưởng là Manech còn sống. Cô giữ vững niềm tin ấy ngay cả khi hết thảy mọi người đều cho rằng anh đã chết và những việc cô đang làm là vô nghĩa. Mathilde dốc đến những đồng tiền cuối cùng mà cha mẹ để lại cho mình để đi khắp nước Pháp tìm tung tích những người có thể kết nối câu chuyện của chồng chưa cưới, thậm chí thuê cả thám tử tư giỏi nhất ở Paris. Niềm tin mãnh liệt ấy đã lan tỏa khiến cho nhiều người cảm thông và muốn giúp cô hơn. Trên chặng đường tìm kiếm của Mathilde, biết bao nhiêu mặt tối của cuộc chiến, cũng là bao nhiêu thân phận người đàn bà được phơi bày. Người bị chồng đẩy vào tay bạn thân và cuối cùng trở thành ngoại tình. Người vì khao khát trả thù mà lần lượt giết những kẻ đã gián tiếp, hoặc trực tiếp hại chết người tình của mình như là Tina Lambordi, bạn gái của tay ma cô thành thị, để rồi sau đó phải đối mặt với án tử hình bị chém đầu. Thông qua những câu chuyện này, người ta thấy rất rõ ràng chiến tranh không chỉ ác liệt ở trên chiến trường, mà nó còn len lỏi vào cuộc sống, biến chúng trở nên tồi tệ ở bất cứ phương diện nào. Những bước chân tập tễnh của Mathilde đi tới đâu là gieo màu xanh hi vọng tới đó. Càng nhiều người hi vọng thì cơ hội Manech của cô còn sống lại càng tăng lên. Có những lúc tưởng như cô sẽ gục ngã khi vị thám tử đưa tới thông tin về ngôi mộ có đề tên Manech, khi nhiều nhân chứng nói đã chứng kiến cái chết của anh, nhưng không, số phận vẫn mỉm cười với Mathilde bởi cô vẫn gắng gượng đứng lên và nỗ lực tìm kiếm không ngừng nghỉ. Màu vàng yêu đương tràn ngập Gam màu sắc chủ đạo của “Cuộc đính hôn lâu dài” là màu vàng của yêu thương ấm nồng. Phần lớn trong hơn 2 tiếng đồng hồ, ngoài những trường đoạn trên chiến trường, bộ phim trải một màu vàng óng ả như mật ong, tươi sáng, đầy hi vọng và đẹp đẽ. Tình Yêu đã đem đến cho Manech sự tự tin và những suy nghĩ tích cực nhất. Trong lúc mọi người đều cảm thấy tồi tệ khi sắp bị vứt ra vùng ranh giới giữa quân Pháp và Đức, thì chàng trai trẻ 20 tuổi này lại vừa ăn bữa ăn ngon lành cuối cùng, vừa nói rằng anh sẽ về nhà sau buổi hành quyết. Nếu chú ý, khán giả sẽ thấy chiếc găng tay mà Manech được đồng đội tặng, chiếc găng tay len màu đỏ với những chấm trắng li ti được anh đeo vào bên tay phải. Đó là bàn tay Manech đã dùng để đặt lên bầu ngực Mathilde trong cái đêm đầu tiên họ ở với nhau trên ngon hải đăng. Bàn tay anh giữ chặt và cảm nhận trái tim cô. Manech vẫn tâm sự với đồng đội rằng “tim cô ấy đập trong bàn tay em”, có lẽ vì thế mà anh muốn chiếc găng tay sẽ giữ ấm cho nó, để mãi lưu giữ trái tim và tình yêu của Mathilde dành cho mình. Hai người như là một đôi thanh mai trúc mã, thân thiết từ nhỏ cho tới lớn và dành cả tình cảm cho nhau. Họ chỉ biết đến nhau. Tình yêu lúc này như một liều thuốc thần kì để giữ cho Manech sống sau khi trúng một loạt đạn từ phía quân Đức và mắc cả chứng viêm phổi nặng. Hành trình tìm kiếm Manech của Mathilde và hành trình cố gắng giành giật sự sống của Manech đã được Tình Yêu đưa lối. Còn gì có thể mạnh mẽ hơn những xúc cảm vẫn luôn được nuôi dưỡng và nâng niu? Chắc là không cần phải nhắc tới những gì Mathilde và Manech dành cho nhau khi gặp lại sau bao trắc trở, hi vọng rồi lại thất vọng rồi lại hi vọng. Chỉ biết là dù có bị mất trí nhớ hoàn toàn, thậm chí phải học đọc và viết từ đầu thì Manech vẫn nói một câu khi anh nhìn thấy Mathilde. “Em có đau khi bước đi không?” - câu nói mà anh đã nói lần đầu tiên khi anh thấy Mathilde tập tễnh trên đôi chân đã teo vì bại liệt ngày còn thơ bé, đứa lên 9, kẻ lên 10. Thế là đủ hiểu, tất cả sẽ lại nở hoa, kết trái. Tất cả sẽ lại là một màu xanh hi vọng và vàng óng ả yêu đương, là dấu ấn khó phai trong mỗi chúng ta.
    9/3/2021
    9:42

About TẠP CHÍ VĂN HÓA

Station website

Listen to TẠP CHÍ VĂN HÓA, TẠP CHÍ ÂM NHẠC and Many Other Stations from Around the World with the radio.net App

TẠP CHÍ VĂN HÓA

TẠP CHÍ VĂN HÓA

Download now for free and listen to radio & podcasts easily.

Google Play StoreApp Store

TẠP CHÍ VĂN HÓA: Podcasts in Family

TẠP CHÍ VĂN HÓA: Stations in Family

Information

Due to restrictions of your browser, it is not possible to directly play this station on our website.

You can however play the station here in our radio.net Popup-Player.

Radio