Radio Logo
RND
Listen to {param} in the App
Listen to TẠP CHÍ VIỆT NAM in the App
(171,489)
Save favourites
Alarm
Sleep timer
Save favourites
Alarm
Sleep timer
HomePodcastsNews
TẠP CHÍ VIỆT NAM

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Podcast TẠP CHÍ VIỆT NAM
Podcast TẠP CHÍ VIỆT NAM

TẠP CHÍ VIỆT NAM

add

Available Episodes

5 of 24
  • Tạp chí Việt Nam - Việt Nam qua góc nhìn của người Việt
    Một nước Việt Nam qua cách nhìn của người Việt, để người Việt tự đoán vận mệnh là ý tưởng của cuốn sách Vietnamiens : Lignes de vie d’un peuple (tạm dịch : Người Việt : Những đường đời của một dân tộc) của nhà nghiên cứu lịch sử Benoît de Tréglodé, do nhà xuất bản Henry Dougier phát hành ngày 30/09/2021. 26 người Việt được tác giả mời tham gia vào cuốn sách là 26 mảnh đời khác nhau, đại diện cho nhiều lĩnh vực, từ nhà nghiên cứu đến nghệ sĩ, từ cựu chiến binh, cảnh sát đến những nhà đối lập… và đến từ nhiều vùng miền khác nhau trên cả nước. Tác giả muốn để những người trong cuộc nói về một « Việt Nam thay đổi ! », không chỉ còn là « những xáo trộn trong thế kỷ trước » mà hướng đến « một tương lai năng động », theo lời tóm tắt của nhà xuất bản về cuốn sách. Nhà sử học Benoît de Tréglodé, giám đốc nghiên cứu tại Viện IRSEM, trường Quân Sự Pháp, tác giả cuốn sách, đã dành cho ban tiếng Việt đài RFI buổi phỏng vấn ngày 06/10/2021. ***** RFI : Cuốn sách Vietnamiens : Lignes de Vie d’un peuple (tạm dịch : Người Việt - Những đường đời của một dân tộc),  được phát hành từ ngày 30/09/2021. Ông đã liên lạc với nhiều người Việt để mời họ tham gia vào cuốn sách. Họ có phản ứng như thế nào ? Benoît de Tréglodé : Trước tiên phải nói là cuốn Vietnamiens không phải là một tác phẩm chỉ đơn thuần nói về lịch sử hay lịch sử chính trị, không phải kiểu sách bình thường tôi vẫn viết. Tôi muốn nói về Việt Nam ngày nay, với cách tiếp cận vừa mang tính văn hóa, vừa thường nhật. Đúng là một số người biết tôi trong tư cách là nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam đương đại, vì thế tôi đã gặp một vài khó khăn để tìm được 26 vị khách mời. Một vài người trong số này đã từ chối tham gia cuốn sách bởi vì sợ tôi kéo họ vào lĩnh vực chính trị. Dĩ nhiên đó không phải là mục đích của tôi, nhưng khi nói về Việt Nam đương đại, thì bằng cách này hay cách khác cũng chạm đến cuộc sống hàng của người dân và đôi khi là thêm một chút chính trị. RFI : Từ chối vì sợ hoặc tự kiểm duyệt có phải là điều bình thường trong xã hội ngày nay không ? Benoît de Tréglodé : Những ai đã sống ở Việt Nam, làm việc với Việt Nam đều biết rằng kiểu tự kiểm duyệt này đôi khi là cần thiết để có thể tiếp tục đối thoại. Điều thú vị mà tôi nhận ra trong cuốn sách này là những người tự kiểm duyệt, thậm chí là không muốn tham gia vào tác phẩm, thường là những người thuộc thế hệ cũ, cao tuổi hơn. Ngược lại, những người Việt tầm 20, 30 tuổi mà tôi liên lạc, thì lại không phản ứng như thế, kiểu như sợ phải nói gì. Tôi có cảm giác là có sự thay đổi về mối liên hệ với chính quyền, mối liên hệ với tương lai của xã hội Việt Nam. Theo tôi, sự thay đổi này được giải thích đơn giản bằng một điều, đó là mỗi cá nhân không có chung cách cảm nhận về lịch sử, ý tôi muốn nói đến lịch sử các cuộc chiến tranh, các xung đột, chế độ chuyên quyền. Lịch sử đó không còn hiện rõ, không còn được cảm nhận như cách của các thế hệ trước. Rõ ràng thế hệ trẻ muốn hướng đến phát triển kinh tế, muốn chinh phục khu vực Đông Nam Á. Tôi tin là có một sự thay đổi thực sự. RFI : Vì ít nhiều liên quan đến đời sống thường nhật nên cuốn sách được chia thành nhiều chương, liên quan đến lịch sử, văn hóa, xã hội… ? Benoît de Tréglodé : Đây không hoàn toàn là ý tưởng của tôi.Cuốn sách này bắt nguồn từ một bộ sưu tập được nhà xuất bản Henry Dougier phát hành từ 6 năm nay. Ông Henry Dougier là một nhà xuất bản có tiếng ở Pháp, ông lập một bộ sưu tập và Vietnamiens là cuốn thứ 50 được phát hành, có rất nhiều cuốn khác nói về các nước châu Á. Chủ ý của bộ sưu tập là vẽ nên chân dung của một dân tộc, một đất nước qua tiếng nói của 26 nhân vật, 26 người được gặp gỡ, trao đổi và được cho là mang lại hình ảnh gần với thực tế của đất nước đó.   RFI : Chính vì thế mà trong cuốn sách này, vai trò đã được thay đổi. Ông để người Việt tự nói về họ, về đất nước, về quá trình phát triển của đất nước, còn ông đóng vai trò là người nghe, ghi chép và truyền tải lại thay vì là nhà quan sát, nhà nghiên cứu. Ông chọn những người phỏng vấn như thế nào ? Benoît de Tréglodé : Trước hết phải nói là tôi không thấy thoải mái với ý nghĩ là tôi, một nhà nghiên cứu, người Pháp, lại viết một cuốn sách nói về người Việt là ai, Việt Nam là nước như thế nào… Vì thế khi nhà xuất bản đề nghị tôi để 26 người Việt tự nói về cuộc sống hàng ngày của họ, cách họ nhận thức và hiểu về lịch sử đất nước họ, những khó khăn và niềm vui của họ, thì tôi thấy vô cùng thú vị. Công việc của một nhà nghiên cứu về Việt Nam đã buộc tôi có được phần nào tính khách quan để cố gắng hiểu được những gì đang xảy ra ở đất nước này. Và với cuốn Vietnamiens, đó là một niềm hạnh phúc bởi vì tôi đã có thể đến ngồi nhà bạn bè, nhà người quen, đi uống cà phê hay nhà hàng để nghe họ nói với tôi về nước Việt Nam của họ. Đây chính là động lực đã khiến tôi muốn viết cuốn sách này. Tiếp theo là phải tìm cách có được một hình ảnh hài hòa vì chúng ta biết ý nghĩa quan trọng của yếu tố địa lý, nên cần có một người Việt ở miền bắc, miền trung, miền nam, hay một người Việt ở cao nguyên hoặc vùng núi, một người dân tộc thiểu số hay dân tộc Kinh đa số, một người Việt ở đô thị hay ở nông thôn, một người Việt ở tầng lớp trung lưu hay thượng lưu hoặc có xuất thân bình dân hơn. Tất cả những yếu tố đó đều quan trọng giúp hiểu được và tạo cho người đọc một cách diễn giải về thực tế của Việt Nam khác đi một chút. Thường thì một nhà nghiên cứu khi đi thực địa hay gặp những người khá có uy tín và chuyên môn nhưng những người này không phải là đại diện cho sự phức tạp của một quốc gia, một xã hội. Cuốn sách nhỏ bé này lại cho phép tôi làm điều đó, được nán lại với những người mà tôi vẫn tạm gác qua một bên khi làm nghiên cứu với tư cách là một nhà sử học. RFI : Bìa của cuốn sách là hình một bàn tay, như để xem bói, với những đường chỉ tay là những con sông hay đường phân giới giữa các tỉnh trên bản đồ Việt Nam. Đây là ý tưởng của ông ? Có thể thấy trong cuốn sách có quá khứ, có hiện tại, nhưng dường như tương lai không được đề cập nhiều. Benoît de Tréglodé : Mọi dân tộc trên thế giới đều rất khó dự đoán được tương lai của họ. Ở Pháp cũng thế, có nhiều câu hỏi được đặt ra cho người dân Pháp, có những câu hỏi về dự định, về tương lai. Thực ra, hình ảnh trang bìa là ý tưởng của nhà xuất bản và họ nhấn mạnh ngay ở phía dưới là « lignes de vie d’un peuple » (đường đời của một dân tộc). Cần phải nhắc lại lần nữa, đây là một bộ sưu tập dành tiếng nói cho những con người đóng góp vào lịch sử một đất nước. Họ không ở đó để phán xét hay sử dụng những diễn đạt của họ về xã hội Việt Nam cho một mục tiêu khác. Cần phải biết là chuyện biến khoa học nhân văn thành công cụ là điều gì đó vô cùng quan trọng ở Việt Nam, cũng như phần nào đó ở Pháp. Tôi là một nhà nghiên cứu về Việt Nam xuất thân từ một thế hệ lớn lên sau thời kỳ mà thế hệ nghiên cứu trước khá thiên về chính trị, cách nhìn về Việt Nam cũng mang tính đấu tranh. Nhưng điểm này chưa bao giờ khiến tôi quan tâm hay thúc đẩy tôi mà ngược lại, cuốn sách này là nhằm để người dân tự do nói trong khuôn khổ loạt trao đổi, gặp gỡ. Đó là những chân dung, những lúc tôi kể lại bối cảnh rất thực tại nhiều nơi ở Việt Nam. Tôi cố gắng giữ một khoảng cách thường xuyên nhất có thể và để 26 người tôi gặp tự quyết định điều họ muốn nói. RFI : Chương cuối cùng được dành cho tiếng nói của một số Việt kiều, dù ban đầu ông không có ý định đó, theo giải thích trong lời mở đầu. Trong một buổi phỏng vấn với RFI về tập điều tra Opérations d’Influence chinoises (Những chiến dịch gây ảnh hưởng của Trung Quốc), đồng nghiệp của ông ở Viện IRSEM, ông Paul Charon đã lưu ý rằng đảng Cộng Sản Trung Quốc tìm cách kiểm soát « cách » kể về chính quyền, về lịch sử đảng trong cộng đồng kiều dân Trung Quốc sống ở các nước dân chủ. Ở Việt Nam thì thế nào ? Benoît de Tréglodé : Thực ra, chính sách của nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam về Việt kiều thì đã có rất nhiều điều được viết và được làm. Đúng là từ năm 1975, người ta có thể xác định nhiều thời kỳ mà đối với chính quyền Việt Nam, vấn đề thoạt tiên được cho là nhạy cả về mặt chính trị, sau này chính sách về Việt kiều lại mang ý nghĩa trung tâm về mặt kinh tế. Nhưng đây không phải là mục đích của cuốn sách. Nếu như tôi quyết định dành chương cuối cho bốn Việt kiều ở Pháp và Mỹ, đó là vì họ mang lại một cách nhìn khác đi về văn hóa gốc gác của họ, đôi lúc là mơ tưởng, lúc thì lại được trí thức hóa. Khi tôi bắt tay viết cuốn sách này, tôi được xem vở kịch Sài Gòn rất hay của nhà viết kịch Pháp gốc Việt Caroline Nguyễn. Tôi thấy có hướng hoài cổ, u sầu, đẹp vô cùng và phần nào có cách nhìn của tác giả về Việt Nam. Tôi thấy có mối liên hệ giữa lời ca của ca sĩ Hồng Nhung ở Việt Nam với điều người ta thấy trong cách diễn đạt của một bộ phận Việt kiều về quê hương họ và nhu cầu kết nối lại với bản sắc Việt Nam, thông qua ẩm thực, âm nhạc, những kỷ niệm, gia đình… Đối với tôi đây là điều không thể thiếu. Không thể nói về Việt Nam ngày nay, người Việt ngày nay mà lại không gộp cả Việt kiều. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà sử học Benoît de Tréglodé, giám đốc nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu IRSEM của trường Quân Sự Pháp (Ecole militaire), tác giả cuốn Vietnamiens : Lignes de vie d’un peuple.
    10/11/2021
    9:36
  • Tạp chí Việt Nam - Covid-19 : EuroCham và doanh nghiệp châu Âu vận động các chính phủ viện trợ Việt Nam chống dịch
    Liên Hiệp Châu Âu là khu vực hàng đầu viện trợ vac-xin ngừa Covid-19 cho Việt Nam với gần 8,6 triệu liều chỉ trong hơn một tháng, từ giữa tháng 08 đến 28/09/2021, thông qua cơ chế COVAX và viện trợ song phương. Giúp Việt Nam chống dịch, xuất phát từ tinh thần tương ái, nhưng cũng là dịp "trả ơn" và nằm trong lợi ích của nhiều nước châu Âu vì Việt Nam hiện là đối tác thương mại lớn nhất của khối tại Đông Nam Á và có Hiệp định Thương mại Tự do (EVFTA) với Liên Âu. Để có được kết quả trên, phải nhấn mạnh đến vai trò của Phòng Thương Mại Châu Âu (EuroCham) và hơn 1.100 doanh nghiệp thành viên hoạt động tại Việt Nam. Vào lúc dịch bùng phát tại Việt Nam làm đứt gãy dây chuyền sản xuất, trong khi chính quyền trung ương và địa phương cũng bị động trước sức tàn phá do biến thể virus Delta, chính các doanh nghiệp thành viên EuroCham, kết hợp với các cơ quan ngoại giao của nước họ, đã phản ánh tình hình tại Việt Nam cho các chính phủ ở châu Âu. Song song đó, họ ủng hộ sáng kiến gây quỹ tại Việt Nam của ông Gricha Safarian, người sáng lập kiêm tổng giám đốc công ty Puratos Grand-Palace Việt Nam. EuroCham đứng ra làm trung gian lập quỹ. Ngày 17/08, Quỹ Breathe Again (Breathe Again Fund, https://breatheagain.fund/) chính thức ra mắt để mọi doanh nghiệp, cá nhân châu Âu có thể đóng góp. Tính đến ngày 03/10, Quỹ đã thu được 1,138 triệu euro, trong đó có 670.000 euro trị giá thiết bị, vật tư y tế được nhà tài trợ thành viên EuroCham gửi trực tiếp đến nơi tiếp nhận. Trả lời RFI Tiếng Việt ngày 30/10, bà Delphine Rousselet, giám đốc điều hành EuroCham Việt Nam, cho biết đây là cách để các nước, cũng như các doanh nghiệp châu Âu sát cánh cùng Việt Nam chống dịch. RFI : Quỹ Breathe Again được ra đời trong bối cảnh nào và nhằm mục đích gì ? Bà Delphine Rousselet : EuroCham là một hiệp hội doanh nghiệp hiện có hơn 1.100 công ty thành viên, trong đó có nhiều đại tập đoàn châu Âu, cũng như doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc công ty tư nhân. Vào lúc tôi nhậm chức giám đốc điều hành EuroCham ngày 05/07, tình hình dịch ở thành phố Hồ Chí Minh trở nên rất khó khăn. Tôi chưa hề được gặp các đồng nghiệp và chỉ làm việc trực tuyến, từ xa với họ. Tôi nêu ví dụ cá nhân này để cho thấy tình hình rất đặc biệt ở thành phố Hồ Chí Minh. Vào khoảng giữa tháng Bẩy, khi thảo luận với chủ tịch EuroCham Alain Cany, tôi nói với ông ấy là phải làm gì đó để hỗ trợ Việt Nam. EuroCham hoạt động ở Việt Nam gần 25 năm, chúng tôi đã cố gắng hỗ trợ nhân viên và thành viên của hội trong đợt dịch, nên chúng tôi thấy phải giúp đỡ Việt Nam. May mắn là EuroCham được chính quyền Việt Nam biết đến và được tôn trọng. Uy tín đó giúp chúng tôi có tính chính đáng và danh tiếng để huy động mọi người ủng hộ chiến dịch hành động của chúng tôi. Chúng tôi nhận thấy rằng trong số thành viên của EuroCham, kể cả những tập đoàn châu Âu lớn đang hoạt động ở Việt Nam, có rất nhiều doanh nghiệp muốn làm gì đó cho Việt Nam trong giai đoạn khủng hoảng này nhưng thường không biết phải làm thế nào bởi vì không phải cứ chi tiền ra là được, mà còn phải tìm được cách quyên tặng thích hợp. Tại sao tôi nói như vậy ? Đó là vì gần đây Việt Nam lập Quỹ vac-xin phòng chống Covid-19 nhưng lại do chính phủ quản lý, trong khi đa số tập đoàn lớn của Pháp có những nội quy nghiêm ngặt, tuyệt đối cấm trao tặng cho các chính phủ. Điều này cũng bị cấm trong nhiều đạo luật châu Âu. Cho nên dù những công ty này có điều kiện nhưng lại không rõ cách làm, hoặc không đủ bảo đảm minh bạch theo quy định đề ra của trụ sở ở châu Âu. Do đó EuroCham đã giới thiệu dự án Breathe Again, giải thích với họ là sẽ minh bạch tuyệt đối. Chúng tôi mở một tài khoản ngân hàng dành riêng cho những khoản viện trợ và chiến dịch quyên góp này. Chúng tôi nhấn mạnh đến yếu tố minh bạch với các thành viên EuroCham nên họ có thể yên tâm sử dụng quỹ hỗ trợ Việt Nam và cũng thuận tiện cho bên thụ hưởng, thường là bệnh viện. Tuy nhiên, hiện giờ vẫn chủ yếu là các bệnh viện ở miền nam vì đây là vùng bị dịch tác động nặng nhất trong những tháng gần đây và cũng là khu vực hoạt động của đa số thành viên EuroCham. Rất nhiều nhà công nghiệp thành viên của EuroCham sản xuất quanh thành phố Hồ Chí Minh, như ở Bình Dương, Đồng Nai hay Bà Rịa-Vũng Tàu… Chúng tôi liên lạc trực tiếp trước với các bệnh viện ở miền nam để tìm hiểu nhu cầu thiết bị y tế của họ. Do tình hình dịch thay đổi rất nhanh nên nhu cầu cũng thay đổi theo, ví dụ cách đây 5-6 tuần, các bệnh viện cần máy trợ thở là chủ yếu, nhưng từ 2-3 tuần nay lại cần máy theo dõi monitor, thậm chí hiện giờ họ đề nghị chúng tôi cung cấp thuốc. Nhưng không dễ mua được thuốc ở Việt Nam. Chúng tôi đang thử nhưng chưa làm được. Nói tóm lại, chúng tôi cố đáp ứng cùng lúc nhiều nhu cầu trong bối cảnh hiện nay. Thứ nhất dĩ nhiên là nhu cầu từ phía Việt Nam và các bệnh viện. Tiếp theo là nhu cầu của các thành viên EuroCham, muốn có một kênh minh bạch để có thể ủng hộ và yên tâm rằng các trang thiết bị, tiền viện trợ được sử dụng đúng mục đích. RFI : Quỹ được khởi động ngày 17/08, số tiền quyên góp được sử dụng như thế nào ? Liệu doanh nghiệp thành viên có thể quyên góp vật chất trực tiếp không ? Bà D. Rousselet : Có hai điểm cần nêu ở đây. Một mặt có những doanh nghiệp, thậm chí là cá nhân, quyên góp tiền. Tất cả đều được chuyển vào tài khoản mà chúng tôi đã mở cho Breathe Again Fund. Mặt khác, chúng tôi có những thành viên là những công ty lớn muốn tặng trực tiếp cho một số bệnh viện, do họ hoạt động ở gần những bệnh viện đó chẳng hạn nên muốn trao quà trực tiếp mà không qua tài khoản của Breathe Again Fund. Dĩ nhiên cách làm này không có vấn đề gì. Điều quan trọng là thiết bị viện trợ được chuyển thẳng đến bệnh viện. Nếu gộp cả giá trị của trang thiết bị được chuyển thẳng đến bên nhận mà không qua trung gian của EuroCham, hiện giờ chiến dịch đã quyên góp được hơn 1,1 triệu euro (tính đến ngày phỏng vấn 30/09/2021). Chúng tôi lập trang web với ba đồng hồ tính tổng số tiền quyên góp và đã chi. Trang web này được cập nhật thường xuyên. RFI : EuroCham đóng vai trò như nào trong việc quản lý quỹ và phân phối thiết bị được quyên góp ? Bà D. Rousselet : Một trong những nguyên tắc của chúng tôi là « minh bạch », như tôi nói ở trên. Ngoài ra, chúng tôi còn theo nguyên tắc « nhanh chóng » và « hiệu quả » để có được tác động thực sự. Chúng tôi không muốn ngồi chờ, chờ cho đến khi đạt được một khoản tiền nào đó, rồi cùng lúc ồ ạt mua thiết bị. Ngược lại, chúng tôi muốn mua và tặng nhanh nhất có thể, ngay khi có một khoản tiền. Và để bảo đảm tính hiệu quả của chiến dịch, chúng tôi phải lập tức tìm được trang thiết bị có sẵn. Vì thế, chúng tôi liên lạc với nhiều nhà phân phối, nhập khẩu thiết bị y tế, dĩ nhiên chủ yếu là các thương hiệu châu Âu, để nắm số hàng có sẵn trong kho mà họ có thể giao ngay. Chúng tôi không muốn chờ nhập từ châu Âu vì mất thêm thời gian vận chuyển, thủ tục hải quan… Chúng tôi đã liên lạc tổng cộng khoảng 12 nhà phân phối và nhập khẩu, đề nghị báo giá và tình hình kho của họ. Tất cả những thông tin này được chúng tôi tổng hợp thành một tài liệu hàng có sẵn, sau đó liên lạc với các bệnh viện trong vùng. Ví dụ họ nói là cần máy monitor theo dõi, chúng tôi sẽ tìm trong kho dữ liệu xem công ty nào nhập và phân phối thiết bị đó, hoặc công ty nào báo đã có sẵn, mẫu mã, giá cả, điều kiện thanh toán… Có nghĩa là chúng tôi có sẵn mọi thông tin để có thể hành động nhanh chóng. Dĩ nhiên chúng tôi cũng mặc cả để có giá hợp lý. Khi đàm phán mua, chúng tôi thêm điều khoản yêu cầu nhà cung cấp chuyển trang thiết bị được mua đến tận bệnh viện thụ hưởng. Ngày giao hàng, chúng tôi phải bố trí để có thể đến tận nơi theo dõi. Đây chính là nguyên tắc minh bạch mà tôi nói ở trên. Chúng tôi cần kiểm tra xem thiết bị mà chúng tôi tặng bệnh viện là thiết bị mới, hoạt động tốt, có nghĩa không phải tặng bất kỳ máy móc nào. Chúng tôi đề nghị phía bệnh viện kiểm tra cẩn thận trước khi ký chứng nhận trao tặng chính thức. EuroCham có người đến dự trực tiếp, hiện tại chủ yếu là tôi do các biện pháp giãn cách chống dịch, để chắc chắn mọi chuyện diễn ra tốt đẹp, thiết bị đúng tiêu chuẩn và không gặp vấn đề. RFI : Cùng thời điểm với việc EuroCham lập Breathe Again Fund, rất nhiều nước Liên Hiệp Châu Âu cũng viện trợ vac-xin cho Việt Nam. Liệu có sự trùng hợp ngẫu nhiên nào không, hay EuroCham đóng vai trò nào đó ? Bà D. Rousselet : Dĩ nhiên là có. Chúng tôi có quan hệ mật thiết và làm việc với tất cả đại diện các nước trong Liên Hiệp Châu Âu, có nghĩa là các đại sứ, tổng lãnh sự, phòng thương mại. Ngay từ đầu tháng 07/2021, chủ tịch Alain Cany cùng với toàn bộ thành viên EuroCham đã nhiều lần họp với các đại sứ của tất cả các nước Liên Hiệp Châu Âu để tìm hướng hành động chung, chuyển thông tin đến chính phủ các nước châu Âu bởi vì chưa chắc họ đã hình dung ra được thực trạng dịch ở Việt Nam. Đúng là năm 2020, Việt Nam là « trò giỏi », gần như không bị dịch tác động nhưng tình hình đột ngột thay đổi. Trong khi các nước châu Âu đã tiêm chủng cho hầu hết người dân thì Việt Nam bắt đầu gặp khó khăn lớn và châu Âu không hiểu được hết vấn đề này. Vì thế chúng tôi đã phối hợp với nhau, không chỉ làm việc với các đại sứ của các nước Liên Hiệp Châu Âu mà còn với các tập đoàn lớn châu Âu, trong đó có nhiều nhà nhà công nghiệp đã đầu tư lớn hoặc hoạt động lâu năm ở Việt Nam, để họ đồng loạt thông báo tình hình dịch ở Việt Nam về trụ sở ở châu Âu. Việc phối hợp hành động, cùng lúc với cơ quan ngoại giao và lĩnh vực kinh doanh, đã giúp các chính phủ châu Âu nhận ra rằng họ có các công ty lớn đang hoạt động ở Việt Nam và những công ty này đang gặp nguy hiểm vì dịch bùng phát mạnh, kiều dân của họ cũng gặp nguy và cần phải hành động. Pháp là nước đầu tiên gửi vac-xin tiêm chủng cho công dân Pháp ở Việt Nam. Quyết định này đã đánh động nhiều nước châu Âu khác cũng gửi vac-xin cho kiều dân của họ. Sau đó, các nước Liên Hiệp Châu Âu đã viện trợ khối lượng lớn vac-xin để giúp đỡ Việt Nam. Cứ như thế tạo thành dây chuyền, hành động này kéo theo hành động khác. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn bà Delphine Rousselet, giám đốc điều hành Phòng Thương mại châu Âu - EuroCham tại thành phố Hồ Chí Minh.
    10/4/2021
    11:00
  • Tạp chí Việt Nam - Covid-19: Việt Nam sẽ phải sống chung với dịch như thế nào?
    Do tình hình dịch Covid-19 đang tạm thời ổn định, một số tỉnh thành ở Việt Nam đã nới lỏng các biện pháp “giãn cách xã hội” như Hà Nội, Đồng Nai, Long An, Đà Nẵng. Trong khi đó, một số nơi khác thì vẫn duy trì các biện pháp hạn chế. Riêng Sài Gòn, tâm chấn của đợt dịch lần này, hiện tiếp tục áp dụng giãn cách xã hội cho đến hết ngày 30/09.   Nhưng dù tình hình dịch Covid-19 có diễn biến như thế nào thì Việt Nam nói chung và Sài Gòn nói riêng cũng không thể “giãn cách xã hội” mãi mãi, mà đã đến lúc phải dỡ bỏ hoặc nới lỏng các biện pháp đó, để hoạt động kinh tế và xã hội dần trở lại bình thường, nói cách khác là phải sống chung với virus corona. Nhưng phải sống chung như thế nào? Sau đây là những ý kiến của hai bác sĩ tại Sài Gòn.  Theo bác sĩ Trương Hữu Khanh, nguyên Trưởng khoa Nhiễm - Thần kinh, Bệnh viện Nhi đồng 1, Sài Gòn, đối với một thành phố có đến gần 10 triệu dân, việc dỡ bỏ phải được tiến hành từng bước:  “ Chắc chắn sẽ không thể nào dỡ bỏ một lần, vì khi chúng ta giãn cách xã hội thì cũng đã giãn cách từng phần để thăm dò từ mức tối đa. Nếu chúng ta có dỡ bỏ thì cũng phải dỡ bỏ từng khu vực, rồi theo dõi các chỉ số, dỡ bỏ từng đối tượng. Những đối tượng nào chưa dỡ bỏ được thì mình phải chích ngừa cho họ. Không thể một lần mình dỡ hoàn toàn được, vì nếu để “vỡ trận” trở lại thì sẽ tốn kém hơn rất nhiều. Thành ra mình phải vừa dỡ bỏ, vừa thăm dò, và dĩ nhiên là mình cũng thực hiện những nguyên tắc để hạn chế lây lan nhất mà vẫn phát triển kinh tế được. Từng bước mình sẽ mở rộng ra để thăm dò sức chịu đựng của ngành y tế như thế nào.” Cũng theo bác sĩ Trương Hữu Khanh, việc dỡ bỏ giãn cách cũng tùy thuộc vào tỷ lệ chích ngừa của từng địa phương: “ Đặc biệt là những nơi có dịch lớn, giống như Thành Phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Tiền Giang, việc mở cửa phụ thuộc vào tỷ lệ chích ngừa. Hiện tại ở Thành Phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ chích ngừa mũi một khá là cao, khoảng 80% rồi, tỷ lệ chích mũi hai cũng đã là 30% rồi. Có lẽ đến hết tháng 9 thì cũng sẽ mở cửa lại, chứ không có cách nào khác.  Thứ hai là khi mở cửa, Thành Phố Hồ Chí Minh cũng dự trù là sẽ mở cửa từng đối tượng, từng giai đoạn và đặc biệt là theo dõi chỉ số về những ca nặng mới để đánh giá là mở cửa như vậy thì áp lực lên khối điều trị sẽ như thế nào. Có lẽ những nơi nào mà dịch đã thâm nhập vào cộng đồng thì cũng sẽ làm theo hướng đó. Chỉ cần đánh giá số ca mới. Nếu mở ra mà số nặng mới không ảnh hưởng gì đến ngành y tế thì mình đâu có gì để bàn.” Về phần bác sĩ Võ Xuân Sơn, Phòng khám quốc tế EXSON, tác giả nhiều bài viết trên mạng về việc phòng chống Covid tại Việt Nam, ông cho rằng việc dỡ bỏ từng bước các biện pháp giãn cách xã hội, mà ông gọi là "phong tỏa", phải mang tính chất “đồng bộ”: “ Hiện nay, chính quyền đang thông báo là sẽ dỡ bỏ từng bước, nhưng thật sự thì nếu dỡ bỏ từng bước mà không hoạch định được bước nào đi trước, bước nào đi sau, không đồng bộ, thì việc dỡ bỏ sẽ chẳng mang lại được gì cả. Bây giờ ví dụ như dỡ bỏ cho các phòng khám cho khám bệnh trở lại, nhưng không dỡ bỏ cho người dân ở các nơi đi khám bệnh, thì làm sao người ta khám? Giống như là vừa rồi dỡ bỏ cho các cửa hàng bán lại, nhưng không cho người dân ra đó mua, thì làm sao mà mua? Thế rồi lại bắt mua qua shippers, thì giá sẽ bị đội lên rất là nhiều. Cuối cùng, rất nhiều cửa hàng không bán hàng lại! Cho nên, nếu muốn dỡ bỏ, muốn phục hồi kinh tế, thì các biện pháp đưa ra phải đồng bộ và phải kích thích được sự phát triển kinh tế, còn nếu mà cứ mở cái này mà lại ngăn cái khác thì cuối cùng sẽ không có hiệu quả gì cả.”  Với việc dỡ bỏ giãn cách xã hội, một vấn đề khác đang đặt ra là Việt Nam có nên tiếp tục xét nghiệm ồ ạt, xét nghiệm “thần tốc” như hiện nay hay không? Bác sĩ Võ Xuân Sơn cho rằng cần phải tiến hành xét nghiệm “có trọng điểm”:   “Việc xét nghiệm tràn lan như bây giờ chắc là trên thế giới không có ở đâu làm. Việt Nam đang làm một cách độc nhất vô nhị trên thế giới. Nếu muốn hội nhập với thế giới, muốn giải quyết nạn dịch này, thì không thể tiếp tục làm như vậy, mà phải xét nghiệm có trọng điểm, xét nghiệm theo yêu cầu, theo khu vực cần thiết. Cần thiết như thế nào và xét nghiệm ở đâu thì phải theo hướng dẫn của bên dịch tễ, làm sao để phục vụ được mục đích phát hiện những người bị nhiễm để có thể giúp đỡ họ, để mau chóng vượt qua, mà không gây tốn kém nhiều, không gây ảnh hưởng nhiều đến xã hội như là bây giờ. Còn nếu không làm như thế, mà cứ tiếp tục như bây giờ thì chắc một thời gian ngắn nữa là  sẽ “sập tiệm” hết, không còn ngân sách nào chịu nổi, không còn người dân nào chịu nổi, vì sẽ có rất nhiều vấn đề phát sinh từ cách làm đó.” Về phần mình, bác sĩ Trương Hữu Khanh cũng cho rằng, theo chiều hướng Việt Nam phải sống chung với dịch Covid-19, chỉ nên xét nghiệm một cách chọn lọc: “ Nếu chúng ta mở cửa lại, thì chúng ta chỉ nên xét nghiệm những người nào có triệu chứng và cần đến bệnh viện, chứ còn cách lây lan của Covid thì nó rất giống với những bệnh khác về đường hô hấp. Những đối tượng đã được chích ngừa rồi nếu bị nhiễm và có bệnh nhẹ, thì họ cũng sẽ tự khỏi. Quan trọng nhất là nếu người đó mắc bệnh, mà trong nhà họ có người nguy cơ bệnh nặng, thì ta mới xét nghiệm nhanh để tách người đó ra. Còn nếu trong nhà đó chỉ có những người trẻ và đã được chích ngừa rồi, thì không cần xét nghiệm làm gì. Những người nào đến bệnh viện và có triệu chứng nặng về hô hấp, thì mình mới xét nghiệm xem có đúng là Covid hay không, để mình tách ra điều trị cách ly và điều trị hỗ trợ. Việc xét nghiệm đó phải được đánh giá theo từng khu vực. Nếu mình thấy khu vực đó không có nguy cơ tấn công vào các đối tượng nguy cơ, thì mình không cần xét nghiệm làm gì”. Trong chiều hướng dỡ bỏ phong tỏa, bác sĩ Võ Xuân Sơn cũng đề nghị xét nghiệm kháng thể để xác định tỷ lệ miễn nhiễm trong cộng đồng: “ Ở Sài Gòn thì tỷ lệ chích ngừa đã cao và tỷ lệ đã có kháng thể do đã bị nhiễm rồi mà người ta không biết hoặc chưa khai báo thì cũng cao. Theo tôi, đã đến lúc dỡ bỏ phong tỏa. Nếu nhà nước cần thì có thể sử dụng test (xét nghiệm) kháng thể, để điều tra xem có bao nhiêu phần trăm dân đã được như vậy. Nói chung là, với hình thức thẻ xanh, thẻ vàng, thẻ đỏ (thẻ xanh thì cho ra đường), ngoài chuyện chích ngừa, thì có thể làm thêm test kháng thể, để những người nào có kháng thể rồi thì cho người ta ra đường, dù chưa được chích vac-xin. Còn tôi thì nghĩ rằng chẳng cần thẻ xanh, thẻ đỏ gì cả, vì bây giờ tỷ lệ chích ngừa đã đủ để cho người ta đi ra đường rồi. Và nếu mình điều chỉnh được các kế hoạch điều trị cho những người bị nhiễm, thì dịch sẽ không đáng sợ như thời gian vừa rồi nữa.“ Cùng với việc thay đổi cách thức xét nghiệm, theo bác sĩ Võ Xuân Sơn, việc điều trị các bệnh nhân Covid cũng cần phải được điều chỉnh theo hướng không nên tập trung quá nhiều trong các bệnh viện, nhất là các bệnh viện dã chiến, mà ông cho là thiếu nhiều thiết bị, thậm chí thiếu bác sĩ: “ Riêng về việc điều trị F0 thì gần đây cũng đã có những thay đổi, ít nhất là tại Thành Phố Hồ Chí Minh, tức là người ta đã chú ý đến việc điều trị bệnh nhân ngay từ khi mới bắt đầu bị nhiễm, chứ không chờ đến khi người ta trở nặng, vào bệnh viện, rồi mới bắt đầu chữa. Tôi thấy hướng thay đổi đó nói chung là tốt. Thứ hai là bệnh viện chỉ nên dành cho những người cần phải nằm viện, còn khi người ta chưa đến mức phải nằm viện, thì để họ ở nhà. Nhưng ở nhà thì không phải như hồi trước, mà phải có sự theo dõi sát sao của bên y tế, để khi họ có những vấn đề gì, thì họ sẽ được tư vấn, họ không bị bỏ rơi. Khi họ trở nặng thì phải có ngay những phương tiện, những hệ thống để đưa họ vào bệnh viện cứu chữa được. Điều đó sẽ làm giảm thiểu tỷ lệ tử vong, cũng như là giảm thiểu nỗi hoang mang trong xã hội đối với bệnh này. Tôi không cho việc tập trung tất cả những người bị nhiễm vào trong các bệnh viện dã chiến là tốt. Nếu tập trung hết vào các bệnh viện, thì thứ nhất là về mặt chi phí sẽ tốn kém rất nhiều, thứ hai làm như vậy là tách người bệnh ra khỏi môi trường gia đình. Người Việt Nam khác với người Mỹ, người Pháp, người châu Âu, không có mấy người vào bệnh viện một mình, bao giờ cũng có con, có cháu đi theo. Thành ra khi đưa vào đó một mình, nhất là những người già, thì người ta mau chóng trở nặng lắm, mau chóng suy sụp tinh thần, từ đó nó phát sinh rất nhiều cái khác. Thứ ba là điều kiện chăm sóc trong các bệnh viện dã chiến thật sự là từ đó đến giờ đều không tốt, thiếu thốn nhiều thứ, thậm chí thiếu cả bác sĩ.  Cho nên, việc tập trung vào các khu vực bệnh viện dã chiến, mà thật ra là những khu cách ly gần như không có trang thiết bị gì cả, là không cần thiết và không nên. Chỉ nên duy trì những bệnh viện nào có trang thiết bị, có thầy thuốc đầy đủ, có điều kiện chăm sóc y tế tốt, chỉ tiếp nhận những người cần phải vào bệnh viện, vào đó là được chăm sóc, cứu chữa đúng nghĩa.” Về phần người dân, một khi các biện pháp giãn cách xã hội được dỡ bỏ hay nới lỏng, mọi người dĩ nhiên phải tiếp tục tuân thủ việc đeo khẩu trang ở nơi công cộng, những nơi kín, và giữ khoảng cách an toàn với nhau. Đồng thời, theo bác sĩ Trương Hữu Khanh, điều quan trọng là phải biết đề phòng cho những người có nguy cơ cao: "Trong tương lai mình phải hiểu mình là một đối tượng an toàn chưa, để mình hòa nhập. Và khi mình hòa nhập như vậy thì có ảnh hưởng đến cộng đồng hay ảnh hưởng đến người thân của mình hay không. Nếu mình đã được chích ngừa hai mũi thì khó có thể bệnh. Nhưng điều quan trọng là mình chỉ bệnh nhẹ và quan trọng hơn nữa là bệnh của mình có nguy cơ lây cho những người chưa chích ngừa, những người có nguy cơ bệnh nặng hay không. Đó là những điều mình cần phải học để sống chung với Covid. Nếu chúng ta đã được chích ngừa rồi hoặc đã khỏi bệnh rồi và chúng ta sinh hoạt trong những nhóm có những đối tượng giống chúng ta, rồi chúng ta trở về nhà và trong nhà không có những đối tượng có nguy cơ bệnh nặng, thì chúng ta có thể sinh hoạt như bình thường. Nếu có một điểm gút nào đó mà có thể tấn công các đối tượng nguy cơ thì chúng ta phải tránh ngay và đặc biệt phải đề phòng cho những đối tượng chưa chích ngừa đủ và đặc biệt là những người chưa chích ngừa đủ và có nguy cơ: cao tuổi, bệnh nền, béo phì. Thật ra về nguyên tắc, nếu chúng ta đã phòng ngừa hết bằng vac-xin cho những đối tượng nguy cơ, thì chúng ta không phải lo lắng gì cả. Lúc đó, nếu có ai mắc bệnh thì cũng sẽ chỉ là bệnh cảm cúm thông thường thôi và lúc đó thì số người không may mà mắc bệnh nặng sẽ rất là thấp, ngành y tế có thể tải được. Điều quan trọng nhất hiện nay có có đủ vac-xin để chích 2 mũi cho những đối tượng đó."
    9/27/2021
    11:30
  • Tạp chí Việt Nam - Nâng quan hệ Mỹ-Việt lên Đối tác chiến lược: Lợi ích và trở ngại
    Chỉ khoảng ba tuần sau chuyến công du Hà Nội của phó tổng thống Mỹ Kamala Harris, ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị cũng chọn Việt Nam mở đầu cho vòng công du bốn nước Đông và Đông Nam Á. Phó tổng thống Hoa Kỳ lên án những đòi hỏi chủ quyền và hành động chèn ép của Trung Quốc ở Biển Đông. Còn ông Vương Nghị như buộc các nước liên quan giữ nguyên trạng ở Biển Đông, đồng thời chống lại các hành động can thiệp của các thế lực bên ngoài. Phát biểu tại Hà Nội ngày 25/08/2021, phó tổng thống Hoa Kỳ Kamala Harris đã kêu gọi Việt Nam cùng “tìm cách gây áp lực, gia tăng sức ép... đối với Bắc Kinh để buộc họ tuân thủ Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, và thách thức các hành vi bắt nạt và yêu sách hàng hải quá mức của Trung Quốc”. Ngoài vấn đề Biển Đông, Hoa Kỳ sẵn sàng tăng cường giúp đỡ Việt Nam về mặt quốc phòng, chống đại dịch Covid-19, mà bằng chứng cụ thể nhất thể hiện cho thiện chí của Mỹ là viện trợ ngay cho Việt Nam trong vòng 24 giờ một triệu liều vac-xin Moderna. Tóm lại, Washington muốn nâng cấp quan hệ với Hà Nội, từ “đối tác toàn diện” lên “đối tác chiến lược”. Giới chuyên gia cho rằng Việt Nam muốn như thế nhưng dè chừng Bắc Kinh tức giận. Đâu là những lợi ích và trở ngại cho Việt Nam nếu thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Hoa Kỳ ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên trường Sư phạm Lyon (ENS), Pháp. ***** RFI : Nâng cấp quan hệ “đối tác toàn diện” lên thành “đối tác chiến lược” với Hoa Kỳ có thể mang lại những lợi ích gì cho Việt Nam ? Đâu là những trở ngại chính trị và quân sự có thể tác động đến việc nâng cấp này ? Laurent Gédéon : Việt Nam đã ký quan hệ đối tác chiến lược với Nga, Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Anh Quốc, Đức, Pháp. Vì thế cần phải xem là Việt Nam tìm kiếm gì khi ký kết một thỏa thuận đối tác chiến lược ? Tôi nghĩ là theo quan điểm của Hà Nội, quan hệ đối tác chiến lược có tầm quan trọng đặc biệt, thứ nhất là cho an ninh, vì thỏa thuận giúp tăng cường cho ngoại giao và quốc phòng của Việt Nam, tiếp theo là cho kinh tế, vì một quan hệ đối tác chiến lược góp phần cho sự phát triển của đất nước, và cho ngoại giao, vì một thỏa thuận như vậy giúp Hà Nội có được sự ủng hộ khi cần về chính sách đối ngoại. Từ những điểm này, nếu nhìn vào trường hợp Hoa Kỳ, có thể thấy đúng là quan hệ giữa hai nước có thể sẽ được thắt chặt hơn, nhưng cũng có thể đặt ra một số trở ngại, dù phía Hoa Kỳ đưa ra yêu cầu mạnh mẽ. Trở ngại đầu tiên liên quan đến chính sách đối nội của Việt Nam. Có thể nói tóm lược rằng trong đảng Cộng Sản Việt Nam có nhiều khuynh hướng khác nhau, như khuynh hướng “thân Trung Quốc” ,hay ít nhiều “ngả về phía Hoa Kỳ”, mà không bên nào chịu thua bên nào. Ngoài ra còn có một số khuynh hướng khác, được thể hiện qua nhiều cấp độ quan điểm khác nhau trong chính sách của Việt Nam, với kết quả có thể thấy được mà chúng ta biết hiện nay. Dù các nhà lãnh đạo Việt Nam nhất trí không để mất chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng họ lại bất đồng về cách hành động. Một số người thiên về việc tăng cường xích lại gần Hoa Kỳ. Một số khác từ chối. Vì thế, có thể thấy cản trở đầu tiên để tiến tới quan hệ chiến lược này là chính sách đối nội và sự mất cân bằng chính trị nội bộ của Việt Nam. Rào cản tiếp theo mang tính quân sự, liên quan đến việc từ lâu Việt Nam vẫn sử dụng vũ khí của Nga. Một phần lớn hệ thống vũ khí của  Việt Nam là do Liên Xô hoặc Nga sản xuất. Việt Nam bị phụ thuộc nhiều vào thiết bị quân sự của Nga, đến 80%. Điều này đặt ra vấn đề tương thích vũ khí do Hoa Kỳ sản xuất vào hệ thống hiện có. Ngoài ra, phải kể thêm một vấn đề pháp lý liên quan đến Đạo luật Chống lại đối thủ của Mỹ thông qua trừng phạt (Countering America’s Adversaries Through Sanctions Act, CAATSA) nhằm trừng phạt những nước mua vũ khí Nga. Đây là một khó khăn dù có thể giải quyết được về mặt ngoại giao, nhưng vẫn là một vấn đề cần được nêu. Trở ngại thứ ba đối với Việt Nam là mức độ tin cậy vào Washington, mà có thể thấy qua những sự kiện gần đây, ví dụ cam kết chiến lược của Mỹ bị suy yếu dưới thời tổng thống Trump. Dù chính quyền Biden đã đổi hướng, nhưng dù sao đây vẫn là một tiền lệ khó có thể khiến các nước muốn xích lại gần Washington cảm thấy yên tâm. RFI : Ngoài ra còn có những trở ngại nào khác ? Laurent Gédéon : Có thể kể đến vấn đề nhân quyền ở Việt Nam, không quá quan trọng hoặc không được nhắc nhiều dưới thời tổng thống Trump, nhưng lại là vấn đề nhạy cảm đối với chính quyền Biden và từng là một điểm trong chiến dịch tranh cử của ông. Tiếp theo là những bất trắc về khả năng Hoa Kỳ gia nhập Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương - CPTTP, thỏa thuận thay thế cho Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương - TPP. Hiện chưa rõ là Mỹ sẽ tham gia hiệp định chung này, hay sẽ phát triển một hiệp định song phương khác với Việt Nam. Khúc mắc cuối cùng về Hoa Kỳ của Hà Nội là trường hợp Afghanistan, nơi quân đội Mỹ can thiệp sâu rộng và giờ rút lui. Điều này xảy ra trong bối cảnh địa-chính trị trong vùng rất bất ổn, có thể dẫn tới xung đột và khiến tôi nghĩ đến sự ổn định chiến lược địa-chính trị của Đài Loan hiện nay, đến hiệu ứng domino từ một cuộc khủng hoảng ở Đài Loan đến Biển Đông, đến việc phương Tây gia tăng sức ép ở trong vùng thông qua việc hải quân Anh, Pháp, Úc và dĩ nhiên là Hoa Kỳ tăng cường hiện diện ở Biển Đông, ở eo biển Đài Loan, cũng như ở nhiều khu vực khác trong vùng. Để kết luận về khả năng Việt Nam bước vào quan hệ hợp tác chiến lược với Hoa Kỳ, có thể nói là Hà Nội sẽ được lợi, chắc chắn là về mặt an ninh quân sự, nhưng cũng có nguy cơ bị mất quyền tự chủ chiến lược. Vì thế có thể nhận thấy là phía Việt Nam thận trọng trong kiểu thỏa thuận như vậy. RFI : Trong trường hợp Việt Nam kí quan hệ đối tác chiến lược với Mỹ, việc này có vi phạm nguyên tắc “Bốn Không” của Việt Nam không ? Laurent Gédéon : Đúng là Sách Trắng Quốc Phòng gần đây nhất của Việt Nam năm 2019 nêu nguyên tắc “Bốn Không”. Tôi xin nhắc lại, đó là “không tham gia liên minh quân sự ; không liên kết với nước này để chống nước kia ; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác” và điểm “Không” thứ tư, được thêm vào “Ba Không” truyền thống, đó là “không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”. Đúng là nguyên tắc “Bốn Không” có vẻ ngăn cản Hà Nội trở thành một bên tham gia vào một cuộc xung đột, ngoại trừ một vụ tấn công trực tiếp vào lãnh thổ Việt Nam. Nhưng trong Sách Trắng Quốc Phòng 2019 cũng có một cảnh báo : “Tùy vào diễn biến tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết và tương ứng với các nước khác”, dù có nguồn gốc chính trị là gì và mức độ phát triển ra sao. Có thể thấy là lần đầu tiên Việt Nam tạo điều kiện cho việc diễn giải nguyên tắc “Bốn Không”. Và điều này có thể mở đường cho khả năng thắt chặt hợp tác quân sự với Hoa Kỳ. Việt Nam cũng rất lưu ý đến việc lần đầu tiên cùng với Hàn Quốc, New Zealand được mời tham gia hội nghị QUAD+ vào tháng 03/2020 tập trung vào đại dịch Covid-19. Đáng chú ý ở chỗ Việt Nam đều có mối quan hệ vững chắc với các nước Bộ Tứ - QUAD gồm Nhật Bản, Ấn Độ, Hoa Kỳ và Úc. Đặc biệt Việt Nam có quan hệ chiến lược với ba trong số bốn nước này, trừ Mỹ. Ở đây cần tìm hiểu là liệu Hà Nội có tiếp cận những nước này, một cách gián tiếp thông qua những cơ chế hợp tác quốc tế chứ không phải là trực tiếp qua những cơ chế quân sự. Trong khi trên thực tế những cơ chế hợp tác quốc tế này lại giúp Việt Nam tham gia vào các cấu trúc liên minh quân sự không chính thức, dù có vẻ đi ngược lại phần nào với nguyên tắc “Bốn Không”. Dường như đây là cách tiếp cận có chủ ý của chính quyền Việt Nam. Ngoài ra, cần biết rằng trong một cuộc thăm dò ý kiến cuối năm 2019 của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), đa số người dân Việt Nam được hỏi ý kiến đều coi Bộ Tứ - QUAD là khung thể chế quan trọng nhất trong vùng, hơn cả ASEAN. Đây là một chỉ số đáng chú ý về khả năng Hà Nội tham gia vào các kiểu liên minh dù không mang tên chính thức như vậy, bất chấp những gì ghi trong Sách Trắng, hay nguyên tắc “Bốn Không”. RFI : Mỹ đã ký bao nhiêu quan hệ đối tác chiến lược ở châu Á và khác gì với liên minh với Philippines ? Laurent Gédéon : Hoa Kỳ đã ký nhiều thỏa thuận quan hệ đối tác chiến lược quan trọng trong vùng. Tôi xin nhắc một vài thỏa thuận như với Ấn Độ, tập trung vào khả năng răn đe và bảo vệ lợi ích chung cũng như về chống đại dịch và biến đổi khí hậu ; với Indonesia tập trung chủ yếu vào kinh tế và giữ gìn trật tự quốc tế theo các quy định đã có ở Ấn Độ-Thái Bình Dương ; với Singapore trong đó có một mảng hợp tác quân sự đáng chú ý, với việc một đơn vị hải quân Mỹ hiện diện ở một cảng của nước này. Ngoài ra, còn phải kể đến thỏa thuận chiến lược tổng thể hơn với ASEAN về y tế công cộng, khả năng kết nối, hợp tác kinh tế và hợp tác hàng hải về mặt môi trường. Nhưng điều mà chúng ta nhận thấy là những quan hệ đối tác chiến lược này không phải là những hiệp ước liên minh quân sự, nhưng có những mảng quân sự ít nhiều quan trọng. Đối với những nước rất gần gũi với Hoa Kỳ thì Washington thiết lập liên minh quân sự, chứ không phải là đối tác chiến lược, như với Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Philippines. Trong trường hợp ba nước Nhật Bản, Hàn Quốc và Philippines, Washington có lực lượng quân đội thường trực hoặc tạm thời.   Riêng trường hợp Philippines, Hoa Kỳ có Thỏa thuận Thăm viếng quân sự (Visiting Forces Agreement, VFA), một phiên bản của Hiệp ước phòng thủ chung được Washington và Manila ký năm 1951. Thỏa thuận VFA hiện nay quy định sự hiện diện của quân đội Mỹ trên lãnh thổ Philippines trong những dịp tập trận, huấn luyện chung, chiến hạm cập cảng, hay bất kỳ hoạt động nào giữa quân đội hai nước. Thỏa thuận Thăm viếng quân sự VFA này đã được tổng thống Rodrigo Duterte tái khẳng định triển hạn hôm 30/07/2021, trong khi Hoa Kỳ vẫn nhắc lại là tiếp tục bảo vệ Phillipines trong trường hợp nước này bị tấn công vũ trang ở Biển Đông. VFA giữa Mỹ-Philippines là một thỏa thuận quân sự, trái với quan hệ đối tác chiến lược. Tuy nhiên, tùy theo ý muốn và chiến lược của hai bên, ví dụ trong trường hợp của Việt Nam và Mỹ, có thể sẽ có một vế quân sự được điều chỉnh để đáp ứng những quan ngại chiến lược của mỗi bên. Nhưng phải nhắc lại là quan hệ đối tác chiến lược không phải là một liên minh quân sự như trường hợp của Mỹ và Phillippines. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, trường Sư phạm Lyon (Ecole Normale supérieure de Lyon) tại Pháp. ***** Đọc thêm : Phần 1 : Phó tổng thống Mỹ đến Việt Nam tìm thêm đối tác kiềm chế Trung Quốc
    9/20/2021
    9:19
  • Tạp chí Việt Nam - Vac-xin ngừa Covid-19 của Việt Nam: Hiệu quả và tính khả thi
    Để đạt được miễn dịch cộng đồng, Việt Nam, với dân số trên 96 triệu, cần ít nhất 150 triệu liều vac-xin. Hiện nay nguồn cung không đáp ứng được nhu cầu và thế giới trong tương lai có lẽ phải sống chung với SARS-CoV-2 và các biến chủng của virus này, có nghĩa là có thể mỗi 6 tháng hay hằng năm phải chích ngừa bổ trợ. Để đảm bảo nguồn cung và an ninh y tế, sẵn sàng ứng phó khi có những đại dịch có thể xảy ra trong tương lai, Việt Nam đang tiến hành kế hoạch sản xuất vac-xin nội địa, dự kiến được sử dụng trong năm 2022. Hiệu quả và tính khả thi của dự án sản xuất vac-xin nội địa là như thế nào, hôm nay chúng tôi xin mời quý vị nghe bài phỏng vấn dược sĩ Huỳnh Long Vân, tiến sĩ Vi khuẩn-Miễn dịch học, chuyên khảo về công nghệ vac-xin, nhóm Nghiên cứu Văn hóa Đồng Nai Cửu Long Úc Châu. RFI: Xin kính chào ông Huỳnh Long Vân, trước hết xin ông nhắc lại là Việt Nam hiện nay nghiên cứu phát triển những vac-xin nội địa nào ? Tiến sĩ Huỳnh Long Vân: Kính chào quý thính giả của Đài Phát thanh quốc tế Pháp RFI, kính chào Thanh Phương. Hôm nay tôi rất hân hạnh được trình bày với tất cả quý vị một số ý kiến và nhận xét của riêng tôi về một đề tài sống động liên quan đến sinh mạng của mọi người trên toàn cầu và đặc biệt đối với đồng bào của chúng ta ở Việt Nam dựa vào những kinh nghiệm thu thập được trong khoảng thời gian gần 15 năm nghiên cứu khoa học ở  Đại học New England, Armidale NSW và Tổ chức nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghiệp CSIRO của Úc châu.  Hiện ở Việt Nam đang có 3 vac-xin đang trong giai đoạn triển khai là Nano Covax, 100% thuộc quyền sở hữu của những công ty quốc nội, Covivac do hợp đồng với các tổ chức nghiên cứu khoa học ngoại quốc và Self Amplifying mRNA ARCT-154, vac-xin dưới hình thức chuyển giao công nghệ.  RFI: Trong khi chờ phát triển xong các vac-xin nội địa đó, thì Việt Nam đã cấp phép sử dụng cho một số vac-xin của nước ngoài. Theo ông thì mức độ an toàn và hiệu quả của các vac-xin này là như thế nào? Tiến sĩ Huỳnh Long Vân: Sáu loại vac-xin đã được phê duyệt cho phép sử dụng ở Việt Nam được chia thành 3 nhóm: Nhóm thứ nhất là vac-xin mRNA gồm: Pfizer-BioNTec và Moderna.  Nhóm thứ hai là vac-xin vector  gồm: AstraZeneca, Janssen và Sputnik-V. Nhóm thứ ba là Viro Cell của Sinovac, Trung Quốc, sản xuất theo công nghệ cổ điển.  Nếu dựa vào phê duyệt của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) làm chuẩn thì 5 trong 6 vac-xin COVID-19 được phép sử dụng tiêm phòng ở Việt Nam, kể cả Viro Cell của Trung Quốc, đạt tiêu chuẩn an toàn, ngoại trừ Sputnik -V, vac-xin của Liên bang Nga.  Nhưng nếu dựa vào những những kiến thức về công nghệ vac-xin, cùng với những dữ liệu đã được công bố rộng rãi trên các tạp chí khoa học thế giới về mức độ an toàn và hiệu quả của 6 vac-xin trên trong điều kiện thực tế, như đối với những triệu chứng của COVID-19, số ca phải nhập viện, số tử vong và đối với các biến chủng, 6 vac-xin đang sử dụng ở Việt Nam có thể được xếp hạng theo thứ tự phân nhóm 1,2,3 vừa trình bày và Viro Cell của Trung Quốc kém hiệu quả nhất. Tuy kém, nhưng không thể kết luận Viro Cell vac-xin không có hiệu quả, bởi vì tiêm chủng là quá trình huấn luyện hệ thống miễn dịch giúp cơ thể phát triển khả năng chống lại mầm bệnh và vac-xin hoạt động bằng cách khai thác trí nhớ của hệ thống miễn dịch RFI: Thế còn mức độ an toàn và hiệu quả của 3 loại vac-xin dự kiến sản xuất nội địa? Tiến sĩ Huỳnh Long Vân: Đối với 3 loại vac-xin dự kiến sản xuất nội địa vì hiện đang trong giai đoạn thử nghiệm lâm sàng nên chưa thể đánh giá về mức độ an toàn và những hiệu quả phòng chống COVID-19 trong thực tế, ngoài một số thông tin sơ khởi thu thập được sau đây: Trước hết về vac-xin Nano Covax, là vac-xin 2 liều tiêm cách nhau 4 tuần, do Công ty cổ phần công nghệ Sinh học Dược Nanogen ở Thành Phố Hồ Chí Minh (TP HCM) kết hợp với Học viện Quân Y (Bộ Quốc Phòng) nghiên cứu sản xuất. Nano Covax thuộc loại “Protein based subunit vac-xin ”, nên chỉ có tác dụng kích hoạt thể miễn dịch thể loãng (Humoral response) của hệ miễn dịch thích nghi để tạo ra kháng thể. Vac-xin này đã được phép thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 và kết quả của 1 phần thử nghiệm này đã được đệ trình lên Hội đồng Đạo đức, bộ Y Tế, cứu xét. Nanogen rất lạc quan và tin rằng Nano Covax sẽ sớm được phê duyệt để sử dụng cho “mục đích khẩn cấp” ,vì với năng xuất 120 triệu liều/năm và Nano Covax được bảo quản trong môi trường từ 2-8C. Đó là hai những yếu tố nhà chức trách Việt Nam mong muốn. Theo Hội đồng Đạo đức, vì vac-xin là sản phẩm đặc biệt, có tác động trên cộng đồng nên phải cẩn trọng từng bước đánh giá về tính an toàn (ngắn hạn và dài hạn), sự bền vững của tính sinh miễn dịch, đặc biệt là hiệu quả bảo vệ. Ngoài ra, cho đến nay, hồ sơ của Nano Covax vẫn chưa được trình cho WHO để phê duyệt khẩn cấp, nên triển vọng vac-xin này được WHO phê duyệt vẫn còn xa. Vì thế, việc công ty Nanogen ngày 08/8/2021 ký kết Hợp đồng bảo mật với công ty Vekaria Healthcare LLP của Ấn Độ để chuyển giao công nghệ, sản xuất và phân phối Nano Covax có phải là quá sớm? Có phải Nanogen làm chuyện “ĐẶT CÁI CÀY TRƯỚC CON TRÂU”, hay có ý định rập khuôn theo Sputnik-V vac-xin của Liên bang Nga, sẽ tung Nano Covax ra thị trường mà không cần phê duyệt của Tổ chức Y tế Thế giới WHO? RFI: Đó là nói về Nano Covax, loại vac-xin thuần túy nội địa, còn về Covivax, vac-xin được phát triển với sự hợp tác quốc tế? Tiến sĩ Huỳnh Long Vân: Covivax là vac-xin 2 liều chích cách nhau 4 tuần, do Viện Vac-xin và Sinh phẩm Nha Trang và Vabiotech phát triển.  Đây là dự án hợp tác với các trường Đại học của Hoa Kỳ (Mount Sinai, New York; Texas, Austin) và tổ chức PATH, là một nhánh nằm trong liên minh sáng tạo và phát triển vac-xin COVID-19 (CEPI). Ba đơn vị sản xuất (IVAC- Việt Nam, GPO- Thái Lan, Butantan-Brazil) cùng nghiên cứu phát triển dưới sự hỗ trợ kỹ thuật của tổ chức PATH. Covivax được IVAC-Việt Nam bắt đầu nghiên cứu và phát triển từ tháng 5/2020 sử dụng công nghệ vector. Là một vac-xin vector nên Covivac có tác động giống như AstraZeneca, Janssen-J&J và Sputnik-V, kích hoạt toàn bộ hệ miễn dịch của chủ thể. Vac-xin này hiện đang được thử nghiệm trong giai đoạn 1 và sắp bước sang giai đoạn 2.  RFI: Còn về vac-xin Self Amplifying mRNA ARCT-154, sẽ được sản xuất nhờ chuyển giao công nghệ từ Công ty Arcturus Therapeutics, Inc. Hoa Kỳ? Tiến sĩ Huỳnh Long Vân: Đây là loại vac-xin 2 liều tiêm cách nhau 28 ngày, có khả năng chống lại các biến chủng mới nguy hiểm như Delta (Ấn Độ), Alpha (Anh), Beta (Nam Phi), Gamma (Brazil).  ARCT-154 sử dụng công nghệ sa-mRNA với đặc tính tự nhân phiên bản mRNA, tạo điều kiện để vac-xin được dùng tiêm chủng với liều lượng thấp hơn so với vac-xin Pfizer và Moderna, nên rất thích hợp cho tiêm chủng đại trà, và sớm đạt được miễn dịch cộng đồng. Thêm một yếu tố hấp dẫn khác của mRNA ARCT-154 là khi thành phẩm sẽ được “đông lạnh-sấy khô” (freeze-dried) vận chuyển phân phối dễ dàng và thích hợp đối với các quốc gia có mức thu thấp.  Được sự hỗ trợ của bộ Y Tế và chính phủ Việt Nam, VinBioCare thuộc Tập đoàn Vingroup đã ký kết với Arcturus Therapeutics, Inc, của Hoa Kỳ nhận chuyển giao độc quyền công nghệ sản xuất vac-xin sa-mRNA ARCT-154 và đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất vac-xin tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc. Ngày 02/8/2021, bộ Y Tế đã phê duyệt đề cương nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng vac-xin ARCT-154 COVID-19, để đánh giá hiệu quả trong điều kiện thực tế: mức độ an toàn và hiệu quả đối với những triệu chứng của COVID-19, số ca phải nhập viện, số tử vong và đối với các biến chủng. Với năng lực sản xuất lên tới 200 triệu liều/năm, dự kiến VinBioCare sẽ xuất xưởng những lô vac-xin phòng COVID-19 đầu tiên vào đầu năm 2022 để cung ứng duy nhất cho thị trường Việt Nam. Đứng trên phương diện miễn dịch học và công nghệ vac-xin để đánh giá, thì 3 vac-xin dự kiến sản xuất nội địa có thể được xếp hạng theo thứ tự như sau: 1. Self Amplifying mRNA ARCT-154 2. Covivac, Nano CoVax RFI: Như vậy phải chăng là nếu sản xuất dựa trên chuyển giao công nghệ như Self Amplifying mRNA ARCT-154 thì chúng ta sẽ có những vac-xin tốt hơn? Tiến sĩ Huỳnh Long Vân: Chuyển giao công nghệ là một quá trình thương lượng, không phải là vấn đề nài nỉ được hiến tặng. Vì thế thiết tưởng trong chiến lược “Ngoại giao Vac-xin ”, Việt Nam ở mọi cấp, mọi nơi, trong mọi tình huống và đối với bất cứ loại vac-xin COVID-19  nào, cũng không nên nhất cử nhứt động yêu cầu được chuyển giao công nghệ. Ngoài ra cần phải so sánh và lựa chọn trong yêu cầu chuyển giao công nghệ: Covivac của Vabiotech-Việt Nam là vector vac-xin sử dụng cùng công nghệ với AstraZeneca, Janssen-J&J và Sputnik-V, nhưng tại sao lại phải thương lượng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ với Quỹ đầu tư trực tiếp của Liên bang Nga để đóng ống Sputnik-V với quy mô 5 triệu liều/tháng bắt đầu từ tháng 7/2021, và sẽ tiến tới chuyển giao công nghệ sản xuất với quy mô 100 triệu liều/tháng. Nano Covax của Nanogen-Việt Nam và COVID-19 vac-xin  của Shionogi Nhật Bản là loại “protein based subunit vac-xin ” và S protein của SARS-CoV-2 được sản xuất từ cùng công nghệ tái tổ hợp protein và nếu có khác biệt gì đi nữa giữa Nano Covax và Shionogi COVID-19 vac-xin thì chỉ là ở chỗ S protein được sản xuất trong loại tế bào nào? Insect cells hay vi trùng E. Coli v.v. ? Nhưng vì sao Vabiotech lại ký hợp đồng với Shionogi Nhật Bản để hợp tác sản xuất COVID-19 vac-xin ? Phải chăng vì các Công ty Sinh học của Việt Nam tự hiểu là một thành phần còn non trẻ trong sân chơi toàn cầu về vac-xin, nên e ngại Nano Covax và Covivax là những vac-xin  “Made BY Vietnam” khó có thể chia phần trong thị trường tiêu thụ so với các vac-xin có nhãn hiệu của các quốc gia Âu-Mỹ nhưng “Made IN Vietnam”, nên vì thế phải chọn những quyết định trên?  RFI: Theo ông thì liệu Việt Nam có đủ nguồn lực để sản xuất các vac-xin nội địa? Tiến sĩ Huỳnh Long Vân: Nano CoVax dự kiến được sản xuất tại sân nhà để góp phần chủ động nguồn vac-xin  ứng phó với đại dịch. Theo một chuyên gia từ Viện nghiên cứu Woolcock ở Hà Nội và Đại học Sydney, thì “viễn ảnh của Nano Covax không mấy lạc quan, vì được nghiên cứu và sản xuất bởi những công ty nhỏ trong nước, chưa có nhiều kinh nghiệm và theo tiêu chuẩn Việt Nam; và ngay cả khi Nano CoVax được sản xuất tại Việt Nam và vac-xin có an toàn, thì việc có đủ nguồn lực để sản xuất số lượng lớn là trở ngại lớn nhất”. Tuy nhiên, rất có thể Nanogen biết được điểm yếu của mình, nên đã đàm phán với các đối tác ở Hàn Quốc và Ấn Độ để sản xuất vac-xin Nano Covax tại hai quốc gia này. Covivax là dự án hợp tác với các trường Đại học của Hoa kỳ (Mount Sinai, New York; Texas, Austin) và tổ chức PATH, nên theo dự đoán sẽ không vấp phải những khó khăn về nguồn lực trong sản xuất một khi được phê duyệt sử dụng. Để kết luận, tôi có thể nói là tất cả những vac-xin được Việt Nam phê duyệt đều có hiệu quả chống lại SARS-CoV-2 tuy không đồng nhất. Vì thế, nếu chúng ta có quyền lựa chọn, thì hẳn phải tìm đến những sản phẩm ưu việt và hiệu quả nhất. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh hiện nay, cung không đáp ứng được cầu và các lãnh đạo của Việt Nam phải cầu viện với hơn 22 quốc gia để chia bớt vac-xin và với các tập đoàn Pfizer, Moderna, AstraZeneca v.v yêu cầu nhanh chóng gia tăng số lượng phân phối nhằm đáp ứng cho nhu cầu cấp thiết của Việt Nam, cho nên tuy biết rằng Viro Cell  Sinovac của Trung Quốc có hiệu quả kém hơn các vac-xin của Âu-Mỹ, nhưng thiết nghĩ chúng ta không thể có cái xa hoa để từ chối, hoặc thuận ý theo triết lý an phận “ CÓ CÒN HƠN KHÔNG”. Riêng đối với 3 loại vac-xin dự kiến sản xuất nội địa, rất mong những giai đoạn thử nghiệm lâm sàng đạt được những kết quả mong muốn và sớm được phê duyệt để sử dụng trong trường hợp khẩn cấp và góp phần vào kế hoạch tiêm chủng lịch sử phòng chống đại dịch Covid-19 của Việt Nam.
    9/13/2021
    12:47

About TẠP CHÍ VIỆT NAM

Station website

Listen to TẠP CHÍ VIỆT NAM, TẠP CHÍ ÂM NHẠC and Many Other Stations from Around the World with the radio.net App

TẠP CHÍ VIỆT NAM

TẠP CHÍ VIỆT NAM

Download now for free and listen to radio & podcasts easily.

Google Play StoreApp Store

TẠP CHÍ VIỆT NAM: Podcasts in Family

TẠP CHÍ VIỆT NAM: Stations in Family

Information

Due to restrictions of your browser, it is not possible to directly play this station on our website.

You can however play the station here in our radio.net Popup-Player.

Radio