PodcastsTạp chí Việt Nam

Tạp chí Việt Nam

Tạp chí Việt Nam
Latest episode

69 episodes

  • Trung Quốc xây tiền đồn mới ở Hoàng Sa và phản ứng chậm trễ của Việt Nam

    13/04/2026
    Đầu tháng 1/2026, tuần báo Mỹ Newsweek tiết lộ Trung Quốc đang xây dựng một tiền đồn mới trên Đá Hải Sâm ( Antelope Reef ), một bãi cạn thuộc quần đảo Hoàng Sa, mà Việt Nam và Trung Quốc vẫn tranh chấp chủ quyền. Ảnh vệ tinh Sentinel-2 của Cơ quan Không gian châu Âu cho thấy hoạt động nạo vét và xây dựng đảo nhân tạo tại bãi đá này đã bắt đầu từ giữa tháng 10/2025. 
    Trong một báo cáo đề ngày 19/03/2026, tổ chức Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á ( AMTI ) nhận định đây là dự án xây dựng đảo nhân tạo quy mô lớn đầu tiên mà Bắc Kinh thực hiện ở Biển Đông kể từ năm 2017. Theo AMTI, nếu việc xây dựng tiếp tục với tốc độ như được thể hiện trong ảnh vệ tinh, Đá Hải Sâm sẽ trở thành thực thể lớn nhất của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa và có thể sẽ là thực thể lớn nhất trên toàn bộ Biển Đông, ngang bằng, hoặc thậm chí vượt qua kích thước của Đá Vành Khăn ( Mischief Reef ) ở quần đảo Trường Sa. 
    Đá Hải Sâm thuộc nhóm đảo Lưỡi Liềm ở phía tây nam của quần đảo Hoàng Sa, nằm cách cảng Tam Á ở tỉnh Hải Nam, Trung Quốc khoảng 300 km và cách Đà Nẵng, Việt Nam khoảng 400 km, trước đây là một trong những tiền đồn nhỏ nhất của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa. Bắc Kinh đã bắt đầu hoạt động nạo vét quy mô lớn tại Hải Sâm vào tháng 10 năm 2025 và trong những tuần gần đây đã bắt đầu xây dựng sơ bộ trên một số khu vực của rạn san hô.
    Trả lời RFI Việt ngữ ngày 01/04/2026, nhà nghiên cứu về Biển Đông Hoàng Việt ghi nhận: 
    "Đá Hải Sâm thì bắt đầu từ khoảng tháng 12/2025 mới rõ tầm vóc xây dựng, có lẽ đã gần bằng đảo Phú Lâm, đảo trung tâm mà Trung Quốc đã xây dựng. Và như vậy có khả năng sau này Hải Sâm sẽ là thực thể lớn nhất của Trung Quốc chăng? Chúng ta biết Hoàng Sa là quần đảo tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam, nhưng Trung Quốc đã chiếm toàn bộ rồi. Cho nên hiện nay Trung Quốc muốn xây gì thì cũng không ai làm gì được. Các quốc gia, trong đó có Việt Nam, chỉ đứng ngoài quan sát thôi. Việt Nam mới đây cũng đã có phản đối. 
    Cách đây khoảng 10 năm, năm 2015, Trung Quốc đã tuyên bố không xây dựng nữa. Nhưng cuối năm 2025 lại xây dựng. Vấn đề quan trọng là Trung Quốc muốn khẳng định vai trò của mình. Trung Quốc vẫn cho rằng Tây Sa ( Hoàng Sa ) là của Trung Quốc, không có tranh chấp gì cả. Nhưng điều này là không đúng, bởi vì Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử, pháp lý để khẳng định chủ quyền của mình trên Hoàng Sa."
    Sử dụng ảnh vệ tinh thương mại gần đây từ công ty Vantor của Mỹ, AMTI đã ước tính diện tích đất lấn biển tại Đá Hải Sâm là vào khoảng 603 hectare. Con số này rất đáng chú ý khi so sánh với quy mô các thực thể của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa. Thực thể lớn nhất hiện nay trong khu vực là đảo Phú Lâm. Mặc dù có căn cứ không quân và hải quân cùng với "thành phố" Tam Sa quản lý toàn bộ Biển Đông, đảo này chỉ rộng khoảng 360 hecta. Đá Vành Khăn, tiền đồn lớn nhất của Trung Quốc ở Biển Đông, có tổng diện tích đất là khoảng 608 hectare, khác biệt không đáng kể so với diện tích hiện tại của Đá Hải Sâm.
    Đá Hải Sâm giờ đây có thể chứa được một đường băng dài khoảng 2.700 mét, thuộc loại mà Trung Quốc đã xây dựng tại đảo Phú Lâm, Đá Vành Khăn, Đá Subi và Đá Chữ Thập ( Fiery Cross ). Phía tây bắc của vùng đất mới tại Đá Hải Sâm, trải dài hơn khoảng 3.200 mét, được tạo hình với một cạnh ngoài thẳng tắp rõ rệt, rất phù hợp cho một đường băng. 
    Cũng theo AMTI, mặc dù một số đảo thuộc nhóm đảo Lưỡi Liềm có hải cảng, nhưng cảng tại Đá Hải Sâm sẽ lớn hơn nhiều và như vậy lực lượng Hải cảnh cùng với một lượng lớn dân quân biển của Trung Quốc có thể duy trì sự hiện diện tại đây, như ở Đá Vành Khăn trong những năm gần đây. Với kích thước như hiện nay, Đá Hải Sâm cũng có thể được xây dựng những cơ sở hạ tầng quy mô giống như ở Phú Lâm và ba tiền đồn lớn của Trung Quốc (Đá Vành Khăn, Đá Subi và Đá Chữ Thập) ở quần đảo Trường Sa, bao gồm các nhà máy điện diesel, các kho chứa ngầm, các vị trí phòng thủ bờ biển, các cơ sở tên lửa địa đối không và tên lửa chống hạm, cũng như nhiều cơ sở giám sát và tác chiến điện tử. 
    Công tác xây dựng sơ bộ đã bắt đầu ở một số khu vực của rạn san hô. Hơn 50 công trình nhỏ mái xám và một bãi đáp trực thăng đã được xây dựng. Có khả năng ít nhất một số công trình ban đầu này là các cơ sở tạm thời, sau này sẽ được thay thế bằng cơ sở hạ tầng kiên cố hơn, như đã thấy trong quá trình xây dựng các tiền đồn của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa. 
    Theo AMTI, nếu được phát triển thành một cơ sở quân sự ngang tầm với các tiền đồn lớn khác của Trung Quốc, Đá Hải Sâm sẽ giúp mở rộng phạm vi hoạt động của các cơ quan tình báo Trung Quốc đến gần bờ biển Việt Nam hơn và cung cấp thêm năng lực cho các lực lượng hải quân và không quân của Trung Quốc ở phía bắc Biển Đông. Vị trí gần Hải Nam của Đá Hải Sâm cũng có thể mang lại cho Bắc Kinh cơ hội mở rộng nỗ lực thiết lập sự hiện diện dân sự ở quần đảo Hoàng Sa. 
    Mặc dù điều này có thể không làm thay đổi đáng kể toàn cảnh chiến lược ở Biển Đông, nhưng Bắc Kinh chắc chắn đang phát tín hiệu về khả năng liên tục mở rộng các thực thể mà họ chiếm đóng, một thông điệp có lẽ nhắm trực tiếp nhất vào Hà Nội, vì các hoạt động bồi đắp đảo của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa vẫn đang tiếp diễn. 
    Về điểm này, nhà nghiên cứu Hoàng Việt nhận định: 
    "Năm ngoái báo chí nước ngoài cho rằng Việt Nam bồi lấp rất mạnh trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Báo Mỹ cho biết Việt Nam đã bồi lấp khoảng 70% so với Trung Quốc. Trung Quốc cũng có phản đối nhưng cũng không căng thẳng lắm. Trung Quốc lần này muốn gia tăng xây dựng trên Đá Hải Sơn để khẳng định chủ quyền của mình, cũng như khẳng định Trung Quốc vẫn là mạnh nhất và không ai có thể ngăn chặn được Trung Quốc.
    Đương nhiên các quốc gia khác cho rằng Trung Quốc vẫn vi phạm luật pháp quốc tế, nhưng rõ ràng trong trường hợp này Trung Quốc vẫn đang thể hiện sức mạnh của mình, đặc biệt là đối với quần đảo Hoàng Sa. Trung Quốc đã nắm quần đảo Hoàng Sa rồi và bây giờ họ xây mạnh lên thì rõ ràng là nó giống như một pháo đài, một chiến hạm không bị chìm trên biển. Và điều này đem lại cho họ rất nhiều lợi ích.
    Phía Việt Nam có bồi lấp nhưng mà không thể bằng Trung Quốc. Trong thời gian qua, Trung Quốc không những bồi lấp mà còn quân sự hóa các thực thể đó."
    Nhưng điều đáng chú ý là mặc dù thông tin về việc Trung Quốc gia tăng bồi lắp Đá Hải Sâm đã được tờ Newsweek tiết lộ từ tháng 1, nhưng trong suốt mấy tháng, Hà Nội vẫn im tiếng. Mãi cho đến ngày 21/03/2026, khi trả lời câu hỏi của phóng viên nhật báo Hồng Kông South China Morning Post, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Việt Nam Phạm Thu Hằng mới ra tuyên bố, nhắc lại là Việt Nam “có đầy đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa”, cho nên “mọi hoạt động của nước ngoài tại quần đảo Hoàng Sa, trong đó có đá Hải Sâm, mà không được sự cho phép của phía Việt Nam là hoàn toàn phi pháp và vô giá trị”.
    Đáp lại phát biểu nói trên của phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Việt Nam, ngày 23/03, Bắc Kinh khẳng định các hoạt động xây dựng tại quần đảo Hoàng Sa chỉ nhằm mục đích “cải thiện điều kiện sống và thúc đẩy kinh tế địa phương”. Phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Trung Quốc tuyên bố: “Quần đảo Tây Sa ( Hoàng Sa ) là một phần lãnh thổ không thể tách rời của Trung Quốc và không có tranh chấp nào về điều đó”. 
    Bối cảnh hiện nay, với cuộc chiến tranh Iran, có vẻ thuận lợi để Trung Quốc gia tăng bồi lấp đảo ở  Hoàng Sa, vì những cường quốc như Hoa Kỳ hay Nhật Bản, vốn vẫn mạnh mẽ chỉ trích những hoạt động bành trướng của Bắc Kinh ở Biển Đông, đều đang có những vấn đề lớn cần giải quyết, theo ghi nhận của nhà nghiên cứu Hoàng Việt:
    “Hiện nay trên thế giới, xung quanh của chúng ta là bao nhiêu cuộc chiến tranh: Cuộc chiến tranh giữa Thái Lan và Cam Bốt, cuộc chiến tranh giữa Pakistan và Afghanistan, rồi năm ngoái là cuộc chiến tranh giữa Pakistan và Ấn Độ này. Và hiện nay thì tại khu vực Trung Đông, Mỹ và Israel đang tấn công vào Iran. Dường như tổng thống Mỹ hiện nay lại phớt lờ vai trò của luật pháp quốc tế. Rất nhiều quốc gia tiếng phản đối Mỹ tấn công Iran, kể cả những nước phương Tây.
    Trong bối cảnh cảnh vô cùng lộn xộn hiện nay, có lẽ Trung Quốc cảm thấy ra tay lúc này là sẽ giành được rất nhiều lợi thế. Trung Quốc là cực kỳ khó chơi và tính toán rất ghê. Việt Nam cũng thấy rằng sức lực của Việt Nam so với Trung Quốc rất khác biệt. Trung Quốc lớn mạnh lắm, cạnh tranh với cả Mỹ. Cho nên đây cũng là những vấn đề mà Việt Nam phải xem xét và Việt Nam thấy rằng là trong bối cảnh hiện nay duy trì hòa bình vẫn là quan trọng. Mặc dù không phải là hòa bình bằng mọi giá, nhưng hòa bình vẫn là quan trọng nhất.”
    Thật ra, cả Hà Nội và Bắc Kinh có vẻ như đều có một cách tiếp cận thực dụng hơn để kềm chế căng thẳng do tranh chấp chủ quyền Biển Đông, thể hiện qua những phản ứng chừng mực của phát ngôn viên bộ Ngoại Giao hai nước. Tờ South China Morning Post ngày 02/04 trích dẫn ông Chu Phong (Zhu Feng), hiệu trưởng Trường Nghiên cứu Quốc tế, Đại học Nam Kinh, Trung Quốc nhận định, duy trì ổn định là ưu tiên hàng đầu của Bắc Kinh trong chính sách Biển Đông, hoạt động “song song một cách rất tinh vi” với việc duy trì chủ quyền của họ trong vùng biển tranh chấp. Hai cách tiếp cận này “có mối liên hệ mật thiết với nhau”. 
    Về phần mình, ông Carlyle Thayer, chuyên gia về Đông Nam Á và giáo sư danh dự tại Đại học New South Wales, ghi nhận: “Cũng có sự đồng thuận rằng tranh chấp chủ quyền biển đảo không nên cản trở sự phát triển của quan hệ song phương.”
    Cũng trên tờ nhật báo Hồng Kông, ông Nguyễn Khắc Giang, một nhà phân tích tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á của Singapore, cho rằng việc Việt Nam trì hoãn việc lên tiếng phản đối Trung Quốc cải tạo Đá Hải Sâm cũng có thể phản ánh suy nghĩ của Hà Nội trong các tranh chấp lãnh thổ với Bắc Kinh:  “Hà Nội từ trước đến nay luôn cân nhắc phản ứng giữa ngoại giao thầm lặng và phản đối công khai tùy theo bối cảnh: mức độ nghiêm trọng của hành động, tình trạng của mối quan hệ rộng hơn và những gì họ tin rằng có thể đạt được thông qua các kênh riêng tư”.
    Theo Nguyễn Khắc Giang, mối quan hệ song phương đang ấm lên cùng với việc cả hai nước gia tăng bồi lắp đảo cho thấy “một thực tế cơ bản” đối với Việt Nam: “Hà Nội có thể tăng cường hợp tác với Bắc Kinh tuy vẫn phản đối các yêu sách chủ quyền biển đảo của nước này. Tôi nghĩ đây là logic hoạt động của một quốc gia yếu hơn trong việc quản lý một mối quan hệ bất đối xứng.”
  • Khủng hoảng dầu lửa Trung Đông tạo thuận lợi cho Việt - Nga thúc đẩy hợp tác năng lượng

    06/04/2026
    Xung đột ở Trung Đông dẫn đến cuộc khủng hoảng dầu lửa toàn cầu cho thấy hạn chế tại nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Các kho dự trữ, nằm trong tay những đối tác tư nhân, chỉ có thể cung cấp dầu lửa đến hết tháng 04/2026. Nhiều chuyến bay nội địa bị cắt giảm vì thiếu xăng. Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào các nguồn nhập khẩu dầu mỏ, do sản lượng trong nước sụt giảm vì các mỏ dầu ngoài khơi đang cạn dần sau thời gian dài khai thác.
    Trong khi đó, việc đa dạng hóa các nguồn năng lượng chưa hoàn toàn mang lại hiệu quả. Cuộc khủng hoảng này cũng cho thấy Việt Nam cần thiết lập hệ thống dự trữ nhiên liệu chiến lược quốc gia, theo trang Nhân Dân. Ngày 29/03, thủ tướng Phạm Minh Chính đã tới khảo sát địa điểm dự kiến xây dựng kho dự trữ xăng dầu chiến lược tại Khu kinh tế Nghi Sơn.
    Song song với nhiệm vụ cấp bách đó, Hà Nội vẫn đang “làm việc với Iran để đề nghị tạo điều kiện, có biện pháp hỗ trợ bảo đảm cho tàu, lao động Việt Nam di chuyển an toàn qua eo biển Hormuz”, theo phát biểu của người phát ngôn bộ Ngoại Giao Phạm Thu Hằng trong buổi họp báo thường kỳ ngày 02/04.
    Ngoài ra, chính phủ cũng khẩn trương triển khai “ngoại giao xăng dầu” với nhiều nước. Ví dụ đề xuất với Tokyo để được tiếp cận kho dự trữ chiến lược của Nhật Bản, đề nghị Trung Quốc xuất khẩu một phần xăng máy bay. Gần đây, trong chuyến công du Matxcơva, thủ tướng Phạm Minh Chính cũng đề nghị được mua dầu của Nga, cũng như tăng cường hợp tác trong lĩnh vực điện hạt nhân, năng lượng tái tạo.
    Việc hợp tác với Nga, đang bị phương Tây trừng phạt vì gây chiến ở Ukraina, có thể sẽ được tiến hành như thế nào ? Nga sẽ đóng vai trò như thế nào trong việc đa dạng hóa nguồn năng lượng của Việt Nam ? Tiến sĩ Vũ Khang, học giả thỉnh giảng, tại khoa Khoa học Chính trị, Đại học Boston, Mỹ, trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt.
    RFI : Trước tiên, anh có thể tóm lược mối quan hệ hợp tác năng lượng giữa hai nước Việt Nam và Nga, gần đây là cam kết hợp tác phát triển điện hạt nhân, được ký vào ngày 23/03/2026 nhân chuyến công du Matxcơva của thủ tướng Phạm Minh Chính ? Vì sao có thể hợp tác được trong lĩnh vực điện hạt nhân mà không lo các biện pháp trừng phạt của phương Tây ?
    Vũ Khang : Khi kể đến quan hệ hợp tác năng lượng Việt Nam và Nga, chúng ta không thể không nhắc đến Vietsovpetro. Xí nghiệp này được thành lập từ năm 1981 với mục đích là giúp Việt Nam tiến hành thăm dò địa chất và khai thác dầu khí tại thềm lục địa phía Nam.
    Cần phải nhắc lại 1981 là giai đoạn mà Việt Nam và Liên Xô là đồng minh quân sự của nhau theo Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác ký vào năm 1978. Việt Nam đã tranh thủ mối quan hệ đó để phát triển và đảm bảo an ninh năng lượng của mình. Và kể cả sau khi Liên Xô tan rã vào năm 1991, Việt Nam vẫn duy trì xí nghiệp liên doanh này với Nga và các nước trong Cộng đồng các quốc gia độc lập SNG.
    Và chính nhờ có xí nghiệp liên doanh này mà từ con số 0, hiện giờ Việt Nam đang sở hữu hệ thống căn cứ dịch vụ dầu khí tổng hợp phục vụ cho các khâu, chuỗi hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ngoài khơi khá là toàn diện. Đây cũng là một cách mà Việt Nam bảo vệ và khẳng định chủ quyền của mình trên Biển Đông.
    Ngoài ra, hàng năm, liên doanh Vietsovpetro đóng vào ngân sách nhà nước và lợi nhuận cho Việt Nam khoảng 53 tỷ đô la. Đây là một khoản khá là lớn cho ngân sách của nhà nước Việt Nam nếu chúng ta tính GDP Việt Nam rơi vào khoảng 500 tỷ đô một năm.
    Đây là một nền tảng khá là vững chắc từ ngoại giao cho đến kỹ thuật để Việt Nam và Nga có thể tiến tới hợp tác ở các mảng khác trong hợp tác năng lượng.
    Đọc thêmViệt Nam và Nga “rửa tiền” mua vũ khí qua thỏa thuận dầu khí với VietSovPetro ?
    Nếu mà nói rộng hơn về thỏa thuận hợp tác về hạt nhân gần đây thì Nga, với tư cách là một trong năm nước được phép sở hữu vũ khí hạt nhân theo Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân NPT, có thể giúp đỡ Việt Nam nghiên cứu và sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích dân sự theo như các điều khoản của Hiệp ước này.
    Kết quả chuyến thăm Nga của thủ tướng Phạm Minh Chính cho thấy hợp tác Việt - Nga sẽ không chỉ dừng lại ở phát triển năng lượng hạt nhân mà còn bao gồm cả năng lượng mới, năng lượng sạch và năng lượng tái tạo với tầm nhìn hơn 100 năm. 
    RFI : Việt Nam đề nghị mua thêm dầu của Nga trong bối cảnh căng thẳng ở Trung Đông vì eo biển Hormuz bị Iran kiểm soát và phong tỏa. Liệu đây có phải là thời cơ tốt để mua dầu Nga mà không bị ảnh hưởng nhiều bởi các biện pháp trừng phạt của phương Tây đối với Nga ? 
    Vũ Khang : Để giảm thiểu tác động của việc đóng cửa vịnh Hormuz do chiến tranh Mỹ và Iran, Hoa Kỳ đã dỡ bỏ các lệnh trừng phạt mua dầu của Nga trong 30 ngày. Điều này sẽ tạo điều điều kiện thuận lợi để Việt Nam mua được dầu của Nga mà không bị trừng phạt. Tuy vậy, hạn chế của lệnh dỡ bỏ này là chỉ có dầu của Nga đã được chất lên các tàu chở dầu thì mới không bị trừng phạt. Cho nên Việt Nam sẽ phải tiếp tục theo dõi tình hình từ phía Mỹ, cũng như là chiến tranh Mỹ và Iran sẽ kết thúc như thế nào.
    Đọc thêmTăng cường hợp tác năng lượng : Mục tiêu chính chuyến công du Nga của thủ tướng Việt Nam
    Một điểm hạn chế nữa khi mua dầu từ Nga, đó là đường vận chuyển khá là dài so với mua từ Trung Đông. Việt Nam mới chỉ đảm bảo được cho cung ứng dầu từ giờ cho đến hết tháng 04, có thể nói sẽ vẫn còn rất khó để chắc chắn là Việt Nam sẽ giải quyết ra sao nguồn cung dầu kể từ tháng 05 trở đi.
    RFI : Tương tự như nhiều nước trên thế giới, dầu lửa là nhiên liệu thiết yếu cho sản xuất. Việt Nam cần dầu nhập khẩu như nào để phát triển sản xuất ? 
    Vũ Khang : Hiện nay, Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 30% lượng xăng dầu, tương đương với 20 tỷ đô la mỗi năm, để đáp ứng các nhu cầu tiêu thụ trong nước. Cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần này chính là một phép thử cho khả năng chịu áp lực cho an ninh năng lượng của Việt Nam.
    Việt Nam, với khả năng của mình, đã tận dụng chính sách ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa để thứ nhất, giữ trung lập trong cuộc chiến Mỹ và Iran ; thứ hai, tìm nguồn cung ứng dầu thô từ Kuwait và Nhật Bản, cũng như với các chuỗi chính sách khác trong nước, ví dụ dỡ bỏ thuế đối với xăng dầu tiêu thụ cho đến hết tháng 06 để tránh cho kinh tế Việt Nam rơi vào khủng hoảng.
    Đọc thêmViệt Nam thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo để bảo đảm sản xuất và trung hòa khí thải
    Việt Nam cũng sẽ phát triển kho dự trữ xăng dầu quốc gia riêng biệt tại tỉnh Thanh Hóa khi mà dự trữ hiện nay từ các doanh nghiệp dầu hỏa đầu mối của Việt Nam mới chỉ đủ cho 7 đến 10 ngày tiêu thụ.
    Nếu nhìn rộng hơn, giá xăng dầu cao cũng sẽ có tác động lớn đến các mặt hàng, hoặc những chính sách kinh tế khác của Việt Nam, vì xăng dầu tăng cao thì sẽ đẩy mạnh lạm phát, cũng như là đẩy mạnh giá trị của đô la. Trong khi đó Việt Nam hiện vẫn phải mua dầu quốc tế bằng đồng đô la, tỷ giá đô la tăng vọt cũng sẽ khiến cho các doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài sản xuất và doanh nghiệp xuất khẩu gặp khó khăn nhiều hơn nữa trong tương lai gần.
    RFI : Nhìn rộng hơn, Việt Nam cần phải phát triển, đa dạng hóa nguồn năng lượng như thế nào để bảo đảm cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và cho sản xuất ?
    Vũ Khang : Phát triển an ninh năng lượng là vấn đề sống còn với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam phải cân bằng giữa hai mục tiêu : vừa tăng trưởng GDP và vừa phải giảm khí thải carbon.
    Theo dữ liệu hiện nay, điện than đang chiếm tỷ trọng trên 33%, thủy điện 28%, năng lượng tái tạo - bao gồm năng lượng Mặt trời và năng lượng gió - khoảng 27%. Do Việt Nam phải dần dần từ bỏ điện than từ nay cho đến năm 2050 theo cam kết tại COP 26, nên Việt Nam bắt buộc phải tìm được nguồn cung thay thế đến từ thủy điện, năng lượng tái tạo và điện hạt nhân.
    Nếu chúng ta nhìn kỹ hơn, thủy điện Việt Nam lại đang chịu tác động rất là lớn từ môi trường khi mà hạn hán có thể làm chậm nguồn cung cho lưới điện. Năng lượng tái tạo, như là năng lượng Mặt trời hay là năng lượng gió, vẫn chưa đủ bảo đảm ổn định cho lưới điện quốc gia, do hai nguồn năng lượng này cũng phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết.
    Đọc thêmViệt Nam sẽ có nhà máy điện hạt nhân đầu tiên vào năm 2030: Liệu có khả thi?
    Trong bối cảnh đó, điện hạt nhân lại là một nguồn năng lượng đáp ứng được yêu cầu ổn định và đây là một nguồn năng lượng sạch. Nhưng một điểm trừ rất lớn của điện hạt nhân, đó là chi phí đầu tư ban đầu và thời gian để bắt đầu vận hành có thể lên đến một thập kỷ hoặc hơn thế nữa. Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng và sản xuất điện hiện nay là 12 đến 15% mỗi năm để đáp ứng được cho mục tiêu phát triển GDP. Theo dự tính đến năm 2030, Việt Nam sẽ cần gấp đôi công suất điện so với hiện nay và đến năm 2050, Việt Nam sẽ cần gấp năm lần công suất điện so với hiện nay.
    Với quan điểm về an ninh quốc gia, Việt Nam có thể mua điện từ Lào hay là Trung Quốc nhưng do các nghi kỵ về chính trị với láng giềng phương Bắc, về tương lai dài hạn, đây không phải là một điều quá khả thi. Do nhìn chung Việt Nam không muốn phụ thuộc về năng lượng hay an ninh điện vào nước ngoài. Điều này đòi hỏi Việt Nam sẽ phải nhanh chóng đầu tư vào nhân lực, cũng như là cơ sở vật chất để phát triển điện hạt nhân, cũng như năng lượng tái tạo ngay từ bây giờ.
    Nhìn chung hơn, tự chủ năng lượng sẽ giúp cho Việt Nam duy trì tự chủ về mặt ngoại giao và tránh việc bị cuốn vào xung đột giữa các nước lớn, cũng như bảo đảm được an ninh năng lượng trong trường hợp chiến tranh xảy ra.
    RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn Vũ Khang, học giả thỉnh giảng, Khoa Chính trị học tại Trường Đại học Boston (Boston College), Hoa Kỳ.
  • Liên Hiệp Châu Âu đưa Việt Nam vào “danh sách đen” thuế vì vấn đề minh bạch

    30/03/2026
    Ngày 17/02/2026, Việt Nam bị Liên Hiệp Châu Âu đưa vào “danh sách đen” thuế. Quyết định này có thể khiến chi phí đầu tư từ các doanh nghiệp châu Âu gia tăng. Tuy nhiên, tác động lâu dài tới quan hệ kinh tế Việt Nam - Liên Âu sẽ được hạn chế nếu Hà Nội cải thiện minh bạch và cơ chế trao đổi thông tin thuế. Việt Nam cũng khẳng định đã bổ sung nhiều văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực thuế, tài chính, quản trị doanh nghiệp.
    Tại sao Việt Nam lại bị đưa vào “danh sách đen” về thuế của Liên Âu, hiện có 10 nước, chủ yếu nằm ở vùng Caribê, Thái Bình Dương và cả Nga ? Danh sách được cập nhật hai lần một năm. Lần sửa đổi tiếp theo dự kiến ​​vào tháng 10/2026. Việt Nam cần có những biện pháp gì để có thể được rút ra khỏi danh sách trong lần cập nhất tới ?
    Nhà nghiên cứu-giảng viên Sébastien Laffitte, Đại học Cergy Paris (CY Cergy Paris Université), chuyên gia về thuế quốc tế, thuế doanh nghiệp và các thiên đường thuế, kiêm thành viên của Tổ chức Quan sát Thuế Châu Âu (EU Tax Observatory), trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt.
    RFI : Tháng 02/2026, Việt Nam bị đưa vào danh sách “thiên đường thuế” của Liên Hiệp Châu Âu. Dựa vào nhưng tiêu chí nào Liên Hiệp Châu Âu đưa một nước vào danh sách này ?
    Sébastien Laffitte : Có lẽ trước hết cần nói rõ rằng danh sách của Liên Hiệp Châu Âu không hoàn toàn là danh sách “thiên đường thuế”, mà đúng hơn là danh sách các quốc gia không hợp tác với Liên Hiệp Châu Âu trong các vấn đề liên quan đến thuế.
    Sự khác biệt chính nằm ở chỗ danh sách này chủ yếu là một công cụ ngoại giao kinh tế mà Liên Hiệp Châu Âu sử dụng để đàm phán với các nước thứ ba, nhằm thúc đẩy họ điều chỉnh chính sách thuế theo một hướng nhất định. Nếu các quốc gia đó không tuân thủ các tiêu chí của Liên Hiệp Châu Âu, họ có thể phải đối mặt với các biện pháp trừng phạt. Tất cả những điều này nhằm thúc đẩy một mô hình quản trị thuế minh bạch và hiệu quả hơn.
    Đọc thêmLiên Âu hy vọng Việt Nam thực hiện triệt để cải cách hành chính để gia tăng hấp dẫn đối với đầu tư châu Âu
    Danh sách này được thiết lập từ năm 2017 và hiện bao gồm 10 quốc gia. Các quốc gia nằm trong “danh sách đen” thường là những hòn đảo nhỏ ở vùng biển Caribê hoặc Thái Bình Dương. Tuy nhiên, trong danh sách này cũng có những quốc gia lớn hơn, chẳng hạn như Nga, và gần đây nhất là Việt Nam.
    Các tiêu chí được sử dụng để xác định việc đưa một quốc gia vào “danh sách đen” bao gồm mức độ minh bạch về thuế, tính công bằng của hệ thống thuế - tức là không tồn tại các cơ chế thuế khuyến khích hành vi trốn thuế một cách rõ ràng - cũng như việc triển khai các biện pháp chống trốn thuế.
    Trong số các tiêu chí này có một yêu cầu quan trọng liên quan đến việc quốc gia đó phải tuân thủ các tiêu chuẩn về trao đổi thông tin thuế theo yêu cầu của các nước khác. Chính dựa trên tiêu chí này mà Việt Nam bị đưa vào “danh sách đen” của Liên Hiệp Châu Âu, đặc biệt do còn thiếu các biện pháp bảo vệ tính bảo mật của thông tin, cũng như do thời gian mà cơ quan thuế Việt Nam cần để cung cấp thông tin thuế theo yêu cầu từ các nước thứ ba. Vì vậy, việc Việt Nam gần đây bị đưa vào danh sách này chủ yếu xuất phát từ vấn đề minh bạch thuế.
    RFI : Vậy quốc gia bị nhắm đến, ví dụ trong trường hợp này là Việt Nam, sẽ phải đối mặt với những hậu quả như thế nào ?
    Sébastien Laffitte : Cụ thể, Ủy Ban Châu Âu yêu cầu các quốc gia thành viên Liên Hiệp Châu Âu áp dụng một loạt biện pháp trừng phạt đối với những quốc gia nằm trong danh sách các nước không hợp tác về thuế. Ngoài ra, các nước thành viên cũng có thể triển khai những biện pháp trừng phạt riêng trong khuôn khổ luật pháp quốc gia của họ. Trước hết, một số biện pháp tối thiểu sẽ được áp dụng chung, sau đó từng quốc gia thành viên có quyền lựa chọn và thực hiện các biện pháp bổ sung mà họ cho là phù hợp.
    Đọc thêmEU-Việt Nam vượt bão thuế quan Mỹ qua Hiệp định Thương mại Tự do EVFTA ?
    Nhìn chung, các biện pháp này nhằm tăng cường tính minh bạch và mức độ cảnh giác đối với các quốc gia nằm trong “danh sách đen”. Trước hết, một số quỹ viện trợ phát triển của Liên Hiệp Châu Âu sẽ không được phân bổ cho các quốc gia trong danh sách này. Thứ hai, các nước thành viên được yêu cầu áp dụng các biện pháp hành chính, bao gồm việc giám sát chặt chẽ hơn các giao dịch của công dân châu Âu - chẳng hạn như công dân Pháp - với các quốc gia trong “danh sách đen”, cũng như tăng cường kiểm toán thuế đối với các thực thể, tức là cá nhân hoặc doanh nghiệp, có liên hệ với những quốc gia này.
    Bên cạnh đó, các quốc gia thành viên Liên Âu cũng được khuyến nghị áp dụng các biện pháp lập pháp nhằm chống trốn thuế, chẳng hạn như khấu trừ thuế tại nguồn hoặc áp dụng các khoản thuế bổ sung đối với các giao dịch tài chính với những nước trong danh sách, trong đó có Việt Nam.
    Tóm lại, việc bị đưa vào danh sách này đồng nghĩa với việc phải đối mặt với một loạt biện pháp trừng phạt kinh tế do các quốc gia thuộc Liên Hiệp Châu Âu áp đặt.
    RFI : Giữa Liên Hiệp Châu Âu và Việt Nam có Hiệp định Thương mại Tự do (EVFTA), có hiệu lực từ ngày 01/08/2020 và hiệp định bảo hộ đầu tư vẫn đang chờ được các nước Liên Âu phê chuẩn. Việc nằm trong “danh sách đen” sẽ tác động như thế nào đến các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư châu Âu, tại Việt Nam ?
    Sébastien Laffitte : Đây là một câu hỏi quan trọng. Mục đích của các biện pháp này là khiến các thực thể đến từ Liên Hiệp Châu Âu - đặc biệt là các doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam - phải tuân thủ những quy định bổ sung, từ đó làm gia tăng chi phí khi đầu tư vào Việt Nam.
    Đó cũng chính là mục tiêu mà Liên Hiệp Châu Âu hướng tới. Thông qua “danh sách đen”, cùng với hiệu ứng “chỉ đích danh và lên án” (name and shame), Liên Âu gây sức ép để buộc các quốc gia bị xem là có chính sách thuế thiếu hợp tác hoặc cạnh tranh thuế quá mức phải điều chỉnh chính sách của họ để xóa bỏ hình ảnh tiêu cực này. Đồng thời, các biện pháp trừng phạt cũng nhắm tới các cá nhân và doanh nghiệp hoạt động tại những quốc gia đó nhằm hạn chế các hành vi cạnh tranh thuế gay gắt.
    Đọc thêmLuật sư Pháp và châu Âu tư vấn cho Việt Nam về EVFTA
    Tuy nhiên, Việt Nam là một nền kinh tế đang phát triển và không bị đưa vào danh sách vì các hành vi trốn thuế bất chính, mà chủ yếu do những vấn đề liên quan đến việc trao đổi thông tin thuế. Vì vậy, theo quan điểm của tôi, nhiều khả năng Việt Nam sẽ nhanh chóng khắc phục tình hình. Đây cũng là điều mà các đại diện của Việt Nam đã khẳng định trong các thông cáo báo chí được đưa ra sau thông báo của Liên Hiệp Châu Âu.
    Trong bối cảnh đó, những tác động tiêu cực có thể sẽ được hạn chế.
    Theo tôi, quan hệ kinh tế với Việt Nam nhiều khả năng sẽ không bị ảnh hưởng đáng kể, đặc biệt vì Việt Nam có vị thế kinh tế và cơ cấu rất khác so với phần lớn các nước còn lại trong danh sách - ngoại trừ Nga - vốn chủ yếu là những quốc đảo nhỏ ở khu vực Thái Bình Dương hoặc Caribê.
    Cuối cùng, theo quan điểm của tôi, “danh sách đen” của Liên Hiệp Châu Âu về các “thiên đường thuế” nên tập trung nhiều hơn vào những tiêu chí cụ thể liên quan đến nguy cơ trốn thuế và cạnh tranh thuế gay gắt, như tôi đã đề xuất trong các nghiên cứu của mình.
    RFI : Như ông vừa đề cập, một trong những tác động đầu tiên của các biện pháp trừng phạt là làm gia tăng chi phí đầu tư. Cụ thể, điều này có nghĩa là gì ?
    Sébastien Laffitte : Nói một cách đơn giản, khi một nhà đầu tư nước ngoài - chẳng hạn từ Pháp - đầu tư vào Việt Nam, giữa hai bên sẽ phát sinh nhiều giao dịch tài chính và kinh doanh. Khi một quốc gia bị đưa vào “danh sách đen”, các biện pháp trừng phạt có thể được áp dụng đối với những giao dịch này.
    Chẳng hạn, các cơ quan thuế có thể áp dụng các khoản thuế bổ sung đối với những giao dịch giữa chi nhánh hoặc công ty con của doanh nghiệp tại Việt Nam và công ty mẹ tại Pháp. Những biện pháp mang tính chất trừng phạt thuế như vậy sẽ làm gia tăng chi phí liên quan đến các hoạt động đầu tư và kinh doanh vào Việt Nam. Do đó, về tổng thể, việc một quốc gia nằm trong “danh sách đen” có thể khiến chi phí đầu tư vào quốc gia đó tăng lên.
    Đọc thêmViệt Nam và Liên Hiệp Châu Âu nâng quan hệ ngoại giao lên mức cao nhất
    RFI : Vậy Việt Nam nên làm thế nào để thoát khỏi danh sách này ?
    Sébastien Laffitte : Như tôi đã đề cập, danh sách này thực chất là một công cụ ngoại giao kinh tế của Bruxelles. Trên thực tế, Liên Hiệp Châu Âu luôn duy trì liên lạc với các quốc gia liên quan, cả trước khi họ bị đưa vào “danh sách đen”, trong thời gian họ nằm trong danh sách, cũng như trong quá trình xem xét việc đưa họ ra khỏi danh sách. Vì vậy, chắc chắn tồn tại các kênh trao đổi giữa chính quyền châu Âu và Việt Nam. Thông qua các cuộc đối thoại này, các quan chức Liên Hiệp Châu Âu có thể giải thích cho phía Việt Nam những tiêu chí và điều kiện cần thiết để được gỡ tên khỏi danh sách.
    Để được xóa khỏi “danh sách đen”, Việt Nam cần cải thiện chất lượng của cơ chế trao đổi thông tin thuế theo yêu cầu từ các quốc gia khác. Như đã nói, chính những hạn chế trong lĩnh vực này là lý do chủ yếu khiến Việt Nam bị đưa vào danh sách.
    Vì vậy, nếu Việt Nam tăng cường các biện pháp bảo đảm tính bảo mật của thông tin, đồng thời cải thiện chất lượng và tốc độ chia sẻ dữ liệu thuế, Việt Nam sẽ đáp ứng tốt hơn các tiêu chí đánh giá và từ đó có khả năng được đưa ra khỏi “danh sách đen”.
    RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm nhà nghiên cứu-giảng viên Sébastien Lafitte, Đại học Cergy Paris, thành viên của Tổ chức Quan sát thuế Châu Âu (EU Tax Observatory).
  • Chiến tranh Trung Đông làm xáo trộn du lịch Việt Nam

    23/03/2026
    Như mọi năm, Hội chợ Du lịch Thế giới vừa diễn ra tại Paris từ 12/03 đến ngày 15/03/2026, đúng vào lúc chiến tranh giữa Mỹ, Israel với Iran vẫn còn rất ác liệt, không biết bao giờ mới kết thúc. Chiến sự Trung Đông đang gây xáo trộn cho du lịch thế giới nói chung và du lịch Việt Nam nói riêng. 
    Bình thường Hội chợ thu hút rất đông đảo khách, đa số là người dân vùng Paris, đến đây để tìm hiểu thông tin cho các chuyến du lịch sắp tới, nhất là cho mùa hè. Tại Hội chợ Du lịch 2026, châu Á chiếm một khu rất lớn, quy tụ những quốc gia vốn là các điểm đến ưa thích của khách Pháp: Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan và nhất là Việt Nam. Năm nay tại Hội chợ có hai công ty Việt Nam đến quảng bá cho du lịch Việt Nam đó là Qasia Travel và Vietnam Original Travel, cả hai đều chuyên tổ chức các tour du lịch cho khách từ những nước sử dụng Pháp ngữ, nhất là Pháp.
    Du lịch Việt Nam có thể nói là đang trên đà khởi sắc trở lại và năm ngoái đã thu hút một lượng du khách quốc tế kỷ lục, lên tới hơn 21 triệu người. Năm nay, trên nguyên tắc du lịch Việt Nam có thể vượt qua kỷ lục đó, vì chỉ trong hai tháng đầu năm 2026 đã có gần 4,7 triệu du khách đến Việt Nam, tăng khoảng 18% so với cùng kỳ năm ngoái. 
    Trả lời RFI Việt ngữ tại Hội chợ, anh Thân Mạnh Đức, chủ tịch và cũng là người sáng lập công ty Vietnam Original Travel, cho biết khách quốc tế, nhất là khách Pháp, đến Việt Nam ngày càng nhiều, một phần cũng chính là nhờ sự quảng bá tích cực của các công ty tư nhân:
    “Việt Nam làm truyền thông tương đối tốt, nhưng không phải là Tổng cục Du lịch làm truyền thông, thực tế là trong các hội chợ du lịch thì không thấy nhà nước tham gia. Tham gia hội chợ như ở Anh và ở Đức, hầu như các công ty tư nhân làm truyền thông tương đối là mạnh. Thế nên là du lịch Việt Nam rất phát triển, lượng khách quan tâm nhiều và thực tế là số khách đi du lịch Việt Nam tăng rất nhiều những năm vừa qua. 
    Ngoài việc làm truyền thông tốt, Việt Nam cũng là một điểm đến rất an toàn, đẹp và cũng không đắt. Đấy là những lý do mà khách đến Việt Nam ngày càng nhiều. 
    Riêng đối với khách Pháp thì những điều gì thu hút họ đến Việt Nam nhất?
    Khách Pháp thì quan tâm nhiều đến lịch sử văn hóa và con người, bởi vì Việt Nam là một nước mà họ đã từng đô hộ và có rất nhiều những vết tích mà họ để lại. Hơn nữa khi đến Việt Nam họ rất thích phong cảnh, con người và văn hóa Việt Nam.” 
    Theo một nghiên cứu của Protourisme, trước chiến tranh Trung Đông, 62% người dân Pháp dự định đi nghỉ trong năm nay, với ngân sách trung bình là 2.500 euro mỗi hộ gia đình. Đối với mùa hè, 46% người Pháp (31,6 triệu người) cho biết họ muốn đi du lịch, giảm nhẹ so với năm 2025. Tuy nhiên, tỷ lệ các chuyến đi nước ngoài đang tăng lên thành 35%, so với 32% năm ngoái. 
    Nhưng rất không may là chiến tranh Trung Đông đã bùng phát bất ngờ, ảnh hưởng khá nặng nề đến du lịch thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, nhất là vì rất nhiều khách châu Âu đến Việt Nam bằng các chuyến bay quá cảnh qua Doha hay Dubai.
    Kể từ khi chiến tranh Iran bùng phát ngày 28/02, rất nhiều khách đã đặt vé đi Việt Nam với các hãng như Qatar Airways hay Emirates, tức là quá cảnh qua Doha và Dubai, đã bị hủy vé, tuy được trả lại toàn bộ tiền vé nhưng bỏ lỡ kế hoạch du lịch hoặc thăm gia đình ở Việt Nam. Nhưng đáng nói hơn cả là tình trạng của những du khách đang ở Việt Nam lúc chiến tranh nổ ra và bị kẹt ở Việt Nam trong nhiều ngày, do không tìm được vé để trở về, hay nói đúng hơn là không đủ tiền để mua những vé máy bay giá cao ngất ngưỡng, có khi lên tới 9.000, 1.0000 euro. Anh Thân Đức Mạch, chủ tịch công ty Vietnam Original Travel ghi nhận:
    “Thực tế là ảnh hưởng rất nhiều, bởi vì phần lớn khách đi qua Doha và Dubai tương đối nhiều do thứ nhất là giá vé rẻ. Bây giờ, khi hai sân bay đó bị đóng lại, các chuyến bay bị hủy tương đối nhiều và khách của em cũng hủy nhiều.
    Sau khi sau khi chiến tranh xảy ra thì chỉ còn lại một số chuyến bay sang Pháp,như là của China Airlines, China Southern Airlines, Vietnam Airlines. Emirates có một số chuyến, nhưng giá vé rất đắt và số lượng chỗ cũng hạn thế, nên lượng khách cũng giảm tương đối nhiều.
    Đối với những khách đã đi du lịch tới Việt Nam và hiện nay kẹt ở Việt Nam, cách giải quyết là như thế nào?
    Hãng hàng không đưa ra giải pháp, một là sẽ extension ( kéo dài ) kỳ nghỉ của khách để chờ xem liệu chiến tranh có dừng lại hoặc là các chuyến bay có thể mở lại được hay không. Giải pháp thứ hai là doanh nghiệp có thể tự tìm chuyến bay cho khách và họ sẽ hỗ trợ một phần. Thế nhưng bây giờ tìm cũng không có chuyến bay và mà có thì phải mua vé hạng thương gia giá rất là cao. Cho nên khách vẫn phải chờ và ở lại Việt Nam thêm một thời gian.
    Một khó khăn nữa là, khi khách phải kéo dài kỳ nghỉ của họ ở Việt Nam, hãng hàng không chỉ hỗ trợ ba đêm đầu tiên thôi, còn sau đó khách phải tự trả, cho nên khách cũng không hài lòng. Bên em có liên lạc với hãng hàng không mà họ đã đặt vé, thì hãng hàng không cũng đưa giải pháp giống như vậy thôi, tức là gợi ý khách sẽ ở lại để chờ xem tình trạng các chuyến bay có thực hiện được hay không. Thứ hai là người ta sẽ chờ những chuyến bay gọi là “giải cứu” về nước họ ( rapatriement ). Nhưng thực ra cũng vẫn đang chờ thôi, chứ chưa thực hiện được chuyện đó. 
    Tiếp theo là bên em sẽ phải hỗ trợ cho khách tìm chuyến bay của các hãng khác, nếu có. Trong trường hợp đấy thì hãng hàng không sẽ hỗ trợ một phần và khách sẽ phải trả một phần.
    Nhưng với giá vé hiện nay đôi khi lên tới 8 ngàn, 9 ngàn euro làm sao mà có thể mua được những vé đó? 
    Vâng, chính vì thế mà khách cũng không chịu, nên bọn em vẫn đang chờ chuyến bay giải cứu và hy vọng chiến tranh sẽ dừng lại, các chuyến bay có thể thực hiện được như bình thường. 
    Khách luôn tìm giải pháp để đi làm sao cho tiết kiệm nhất có thể, mà những chuyến bay có transit ( quá cảnh ) thì rẻ hơn những chuyến bay trực tiếp. Bây giờ nhu cầu của khách đi du lịch cũng nhiều, cho nên nếu chỉ có một vài hãng như Vietnam Airlines, hoặc là Southern China Airlines thì cũng không đáp ứng đủ, thế nên giá vé rất cao.
    Chiến tranh mà kết thúc và các sân bay mở lại thì em nghĩ là các chuyến bay sẽ trở lại bình thường thôi. Chiến tranh sẽ tác động tiêu cực đến du lịch cũng như một số lĩnh vực khác. Giá vé máy bay là một phần. Giá xăng dầu tăng thì dẫn đến giá vận chuyển tăng, các nhà hàng, khách sạn cũng tăng, mọi thứ sẽ tăng. Em nghĩ là du lịch sẽ rất khó khăn.
    Năm ngoái, số khách tăng đột biến và những dòng khách như từ Ấn Độ và nhất từ Ý đến Việt Nam tương đối đông. Thế nhưng khách Ý  bay qua Qatar tương đối nhiều, bởi vì Vietnam Airlines không có chuyến bay hàng ngày, mà một tuần chỉ có ba chuyến. Vì chỉ có ba chuyến cho nên nhiều khi không đúng với ngày mà họ muốn đi. Thế nên chuyến bay thì vẫn trống, nhưng lúc khách cần thì cũng không có. Chính vì vậy bây giờ lượng khách cũng giảm rất nhiều sau khi chiến tranh nổ ra. Kể cả khách từ Ấn Độ. Còn dòng khách Pháp của bên em thì cũng bị ảnh hưởng khoảng 50% hoặc 30%, bởi vì họ cũng bay qua các nước thứ ba rất nhiều để tiết kiệm chi phí.”
    Ảnh hưởng của chiến tranh Trung Đông đã được thể hiện rõ qua thái độ của khách đến Hội chợ Du lịch Paris năm nay. Ai cũng đến chủ yếu để hỏi thông tin, chứ không đặt chỗ cho những chuyến đi trong năm nay, theo lời anh Thân Đức Mạnh, vốn đã tham gia Hội chợ này từ năm 2008 đến nay: 
    “Năm nay so với năm trước thì cũng tương đối là đông, thế nhưng họ đến gần như là chỉ tham khảo và lấy thông tin thôi. Hoặc là người ta hỏi cho những chuyến đi rất xa, chứ không như những năm trước. Những năm trước, thậm chí bọn em có thể bán tour ngay tại chỗ và có rất nhiều khách quan tâm thật sự cho những chuyến đi rất gần và người ta quan tâm nhiều thông tin lắm. Còn bây giờ người ta đến chỉ hỏi thông tin qua loa vậy thôi. Em nghĩ là họ còn phải chờ xem các chuyến bay như thế nào, bởi vì sau khi chiến tranh xảy ra thì giá vé rất đắt và chiến tranh thì không biết đến bao giờ có thể kết thúc. Tức là họ không hoàn toàn chắc chắn từ đây đến cuối năm. Còn chất lượng của mỗi cuộc trao đổi cũng không thật sự như những năm trước em đã từng tham gia.”
    Nói chung, theo lời chủ tịch Vietnam Original Travel, tại Hội chợ Du lịch Paris năm nay, nếu khách có đặt tour thì thường là họ dự kiến cho tháng 4, tháng 5 hoặc tháng 6 của năm 2027!
    Theo báo chí Việt Nam, trong bối cảnh một số hãng hàng không Trung Đông tạm dừng khai thác, Vietnam Airlines đã điều chỉnh một số đường bay đến châu Âu, bổ sung khoảng 30 chuyến bay nhằm giải tỏa lượng hành khách đang bị tồn đọng tại Việt Nam và chiều ngược lại.
    Nhưng các hãng hàng không đang lo ngại sẽ rơi vào tình cảnh “càng bay càng lỗ”, nếu giá xăng dầu tiếp tục tăng do xung đột leo thang tại Trung Đông. Các hãng cung cấp xăng dầu cũng gặp khó khăn về việc đảm bảo duy trì cung ứng nhiên liệu cho hoạt động vận tải hàng không tại Việt Nam. Việc tăng giá dầu diesel cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động của các cảng hàng không.
    Trong một văn bản đề ngày 09/03/2026 gởi bộ Giao Thông Vận Tải, Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam (CAAV) đã chính thức cảnh báo về nguy cơ thiếu nhiên liệu kể từ đầu tháng 4 và kéo dài sang các tháng tiếp theo. Trước tình hình này, cơ quan quản lý đã yêu cầu các hãng hàng không trong nước như Vietnam Airlines, Vietjet và Bamboo Airways cắt giảm số chuyến bay của các tuyến nội địa và ưu tiên cho các tuyến quốc tế “chiến lược”.
    Cuộc khủng hoảng này cho thấy tính chất dễ bị tổn thương của ngành vận tải hàng không Việt Nam trước sự bất ổn địa chính trị toàn cầu và có thể dẫn đến việc tăng giá vé đáng kể hoặc hủy chuyến hàng loạt trong những tuần tới.
  • Chiến tranh Trung Đông tác động đến hấp lực xuất khẩu và tăng trưởng của Việt Nam

    16/03/2026
    Xăng dầu tăng giá là hệ quả rõ nhất có thể thấy ở Việt Nam do chiến tranh Trung Đông. Tình hình xung đột kéo dài và nguy cơ gián đoạn tại eo biển Hormuz đặt Việt Nam trước nhiều thách thức kinh tế và thương mại. Chi phí sản xuất và vận tải đội giá, ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành công nghiệp quan trọng. Chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn, nguyên liệu nhập khẩu trở nên khan hiếm.
    Những biến động này làm giảm tính cạnh tranh của hàng Việt tại các thị trường trọng điểm như Liên Hiệp Châu Âu, Hoa Kỳ. Nền kinh tế toàn cầu xấu đi cũng không phải là dấu hiệu tốt cho Việt Nam vì một phần lớn tăng trưởng dựa vào xuất khẩu. Chi phí gia tăng còn có nguy cơ đẩy lạm phát lên cao. Tất cả những thách này đòi hỏi Việt Nam cần có những giải pháp ứng phó nhanh và hiệu quả.
    Trên đây là một số nhận định của nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên tại Đại học Công giáo Lyon (UCLy) chuyên ngành khoa học chính trị, thành viên của Viện Đông Á tại Trường Sư phạm Lyon (ENS de Lyon), khi trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt ngày 12/03/2026.
    RFI : Cuộc chiến bùng nổ ở Trung Đông đang gây ra những ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều lĩnh vực và hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Trung Đông có vai trò như thế nào trong quan hệ kinh tế và thương mại của Việt Nam hiện nay ?
    Laurent Gédéon : Kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và Trung Đông còn khá hạn chế, với xuất khẩu sang khu vực này chiếm chưa đến 3% tổng kim ngạch. So với Mỹ, Trung Quốc hay Liên Hiệp Châu Âu thì Trung Đông vẫn là thị trường nhỏ hơn, nhưng vẫn được xem là một thị trường chiến lược tiềm năng đối với Việt Nam vì một số lý do.
    Thứ nhất, về xuất khẩu, Trung Đông là thị trường tiêu thụ nhiều hàng hóa của Việt Nam như điện thoại, linh kiện điện tử, dệt may và đồ nội thất. Khu vực này cũng nhập khẩu nhiều nông sản và thủy sản của Việt Nam do phụ thuộc vào nguồn thực phẩm bên ngoài. Do đó, gạo, cà phê, tiêu, hạt điều, cũng như tôm và các loại hải sản khác của Việt Nam cũng tìm được thị trường đầy triển vọng. Ngoài ra, thị trường thực phẩm “halal”, ít được biết đến nhưng đang phát triển mạnh và có thể đạt 5.000 tỷ đô la vào năm 2030, trở thành lĩnh vực chiến lược mà Việt Nam hướng tới để đáp ứng nhu cầu của các nước Hồi Giáo.
    Về nhập khẩu, Việt Nam chủ yếu nhập năng lượng từ Trung Đông, đặc biệt là dầu mỏ, sản phẩm từ dầu, khí tự nhiên hóa lỏng và nguyên liệu hóa học. Ngoài ra còn có kim loại và nguyên liệu thô phục vụ công nghiệp. Những nguồn này rất quan trọng đối với ngành công nghiệp và hệ thống năng lượng của Việt Nam. Về mặt này, Trung Đông đóng vai trò then chốt đối với Việt Nam với tư cách là nhà cung cấp năng lượng và công nghiệp.
    Đọc thêmMối quan hệ truyền thống khiến Việt Nam khó xử trong xung đột Israel-Hamas
    Đối với các nước vùng Vịnh, Việt Nam đã triển khai chiến lược đầu tư từ nhiều năm qua thông qua các hiệp định thương mại song phương. Tiêu biểu là Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện (CEPA) ký ngày 28/10/2024 tại Dubai với Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống, nhằm xóa bỏ hầu hết thuế quan, thúc đẩy đầu tư và tăng cường thương mại song phương.
    Nhìn chung, có thể nói rằng Trung Đông là đòn bẩy quan trọng giúp Việt Nam đa dạng hóa thương mại và nguồn năng lượng, giảm phụ thuộc vào một số đối tác lớn như Trung Quốc và Hoa Kỳ.
    RFI : Căng thẳng hoặc xung đột ở Trung Đông có thể ảnh hưởng đến mức độ nào đối với một số thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam, như Liên Hiệp Châu Âu hoặc Hoa Kỳ, cũng như các nước vùng Vịnh và Israel ?
    Laurent Gédéon : Xung đột ở Trung Đông có khả năng tác động đến thị trường xuất khẩu của Việt Nam theo nhiều cách.
    Thứ nhất, xung đột ở Trung Đông có thể làm giá năng lượng tăng cao vì đây là một trong những khu vực sản xuất dầu khí hàng đầu thế giới. Nếu xung đột kéo dài, sản xuất và vận chuyển hydrocarbon sẽ bị ảnh hưởng. Giá dầu khí tăng khiến chi phí vận tải biển và hàng không tăng, kéo theo chi phí sản xuất tại Việt Nam cao hơn, đặc biệt trong các ngành công nghiệp, dệt may, điện tử và vận tải. Khi giá sản phẩm tăng, hàng Việt Nam sẽ kém cạnh tranh hơn tại các thị trường trọng điểm, cụ thể là Liên Hiệp Châu Âu và Mỹ - hai thị trường xuất khẩu chính (chiếm gần 40%) đối với hàng chế tạo của Việt Nam.
    Đọc thêmViệt Nam hợp tác dầu khí với Ả Rập Xê Út
    Yếu tố thứ hai là nhiều tuyến thương mại chiến lược sẽ bị gián đoạn nếu xung đột dẫn đến bất ổn kéo dài ở hai khu vực hàng hải nhạy cảm là Vịnh Ba Tư và phía bắc Ấn Độ Dương, cùng với việc eo biển Hormuz bị đóng một phần hoặc toàn bộ. Tình hình thậm chí có thể nghiêm trọng hơn nếu lực lượng Houthi ở Yemen cũng tham gia vào cuộc xung đột và siết chặt phong tỏa ở eo biển Bab-el-Mandeb để giảm bớt áp lực cho Iran.
    Cho dù hiện nay lực lượng Houthi giữ thái độ thận trọng nhưng vẫn không thể loại trừ một kịch bản như vậy, bởi vì thủ lĩnh Abdul-Malik al-Houthi đã tuyên bố trên truyền hình ngày 05/03 rằng lực lượng Houthi sẵn sàng tấn công bất cứ lúc nào. Trong bối cảnh bất ổn như vậy, tàu thuyền sẽ phải tránh các vùng biển nguy hiểm, điều này sẽ làm tăng thời gian vận chuyển và chi phí logistic.
    Trong trường hợp đó, Việt Nam sẽ gặp khó khăn, vì chuỗi giá trị xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào các tuyến hàng hải nối các trung tâm sản xuất châu Á với các thị trường lớn ở châu Âu và Bắc Mỹ. Bất kỳ sự gián đoạn nào đối với các tuyến đường này đều có thể dẫn đến việc tăng chi phí và chậm trễ giao hàng.
    Cuối cùng, yếu tố thứ ba liên quan đến kinh tế toàn cầu. Căng thẳng ở Trung Đông có thể gây bất ổn kinh tế chung, đặc biệt là việc nhà đầu tư rút vốn và các nước phân bổ lại ngân sách tập trung cho quốc phòng. Điều này có thể làm suy yếu kinh tế của các đối tác thương mại của Việt Nam, đặc biệt ở Trung Đông, từ đó giảm nhu cầu nhập khẩu. Nếu xung đột kéo dài hoặc leo thang, tác động tương tự cũng có thể lan sang châu Âu và Mỹ, hai thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam.
    Đọc thêmPetroVietnam sẽ đầu tư 1,2 tỷ đô la vào một mỏ dầu tại Iran
    Do đó, xung đột giữa Iran với Hoa Kỳ và Israel có thể gián tiếp ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam. Mặc dù Trung Đông không phải đối tác thương mại chính nhưng căng thẳng khu vực vẫn có thể gây ra hậu quả đáng kể cho các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam. Nếu gián đoạn kéo dài, hàng hóa Việt Nam có nguy cơ kém cạnh tranh về giá so với các nước gần châu Âu và Bắc Mỹ hơn và sử dụng các tuyến vận tải ngắn hơn hoặc ít rủi ro hơn.
    RFI : Ngành công nghệ của Việt Nam đang phát triển. Tại sao lĩnh vực này cũng có thể bị tác động với những diễn biến địa-chính trị ở Trung Đông ?
    Laurent Gédéon : Nhìn chung ngành công nghiệp công nghệ của Việt Nam, bao gồm điện tử, bán dẫn và lắp ráp, phụ thuộc lớn vào năng lượng và nguyên liệu thô. Căng thẳng tại các quốc gia sản xuất hydrocarbon như Ả Rập Xê Út, Qatar hay Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất có thể làm giá dầu và khí đốt tăng lên, kéo theo chi phí sản xuất và vận tải quốc tế tăng, như đã nói ở trên. Trong khi đó hoạt động công nghiệp của Việt Nam cần nguồn năng lượng lớn, giá năng lượng tăng sẽ tác động đến sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu công nghệ Việt Nam.
    Việt Nam đã trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi sản xuất công nghệ toàn cầu nhờ sự hiện diện của các tập đoàn lớn như Samsung, Intel, Foxconn và Apple. Với vai trò nhà xuất khẩu sản phẩm hoàn chỉnh, bất kỳ gián đoạn nào trong chuỗi logistic hoặc tăng chi phí vận chuyển đến các thị trường xuất khẩu đều sẽ gây thiệt hại đáng kể cho Việt Nam.
    Trường hợp Israel đặc biệt quan trọng, cần được nhắc lại, bởi vì Việt Nam hợp tác sâu rộng với Nhà nước Do Thái trong trí tuệ nhân tạo AI và công nghệ nông nghiệp (agritech). Agritech là lĩnh vực ứng dụng kỹ thuật số và robot nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả nông nghiệp. Căng thẳng kéo dài có thể làm chậm các dự án hợp tác và giảm đầu tư. Trong bối cảnh Israel là một trung tâm công nghệ quan trọng, việc căng thẳng khu vực kéo dài hoặc leo thang có thể làm chậm các dự án hợp tác công nghệ song phương và dẫn đến sự sụt giảm đầu tư trong lĩnh vực này. Tương tự, Việt Nam cũng có thể phải đối mặt thách thức này với các nước vùng Vịnh, vốn đang thúc đẩy đa dạng hóa kinh tế tập trung vào mở rộng công nghệ cao và đổi mới sáng tạo từ nhiều năm gần đây.
    Đọc thêmIsrael bán hai vệ tinh do thám cho cơ quan tình báo quân sự Việt Nam
    Ngoài khu vực Trung Đông, khủng hoảng có thể sẽ gây lạm phát toàn cầu và suy giảm kinh tế ở châu Âu và Mỹ. Và như vậy có thể sẽ làm dao động hoặc giảm nhu cầu sản phẩm điện tử. Đây sẽ là một thách thức lớn cho ngành công nghệ Việt Nam.
    RFI : Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng ít nhất 10% vào năm 2026. Áp lực thuế quan của Mỹ đã thúc đẩy Việt Nam tìm cách đa dạng hóa đối tác thương mại. Xung đột ở Trung Đông có thể tác động như thế nào đến mục tiêu này ?
    Laurent Gédéon : Cuộc xung đột sẽ tác động mạnh đến nguồn năng lượng. Ngày 10/03, Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ (EIA) điều chỉnh dự báo giá dầu Brent 2026 lên 79 đô la/thùng (so với 58 đô la vào tháng 02/2026) và tăng 36% kể từ đầu năm. Giá năng lượng tăng sẽ ảnh hưởng đến xăng, dầu hỏa, phân bón, hóa dầu, nhựa và  như vậy sẽ tác động trực tiếp đến vận tải, công nghiệp, luyện kim, bán lẻ và thực phẩm.
    Nếu xu hướng này tiếp diễn, lạm phát ở Việt Nam, hiện là 2,5%, có thể tăng gấp đôi trong những tháng tới. Giá dầu tăng cũng sẽ đè nặng lên tăng trưởng GDP, ngay cả khi Việt Nam là nước sản xuất dầu khí bởi vì Việt Nam cũng phải nhập dầu khí.
    Hiện giờ rất khó đưa ra các dự đoán chính xác. Nếu eo biển Hormuz bị đóng cửa hoàn toàn và kéo dài, có nghĩa là Iran rải thủy lôi và bắn vào tàu thuyền tìm cách đi qua, thì giá dầu có thể ở mức hơn 100 đô la/thùng. Một trong những tác động đối với Việt Nam, như đã đề cập, là lạm phát có thể vượt 5%, và xuất khẩu giảm, cho nên có khả năng GDP bị giảm thêm 1%. Tình hình này đòi hỏi chính quyền Việt Nam theo dõi sát sao để dự báo tác động và triển khai các biện pháp ứng phó hiệu quả.
    RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon.

About Tạp chí Việt Nam

Những vấn đề, sự kiện đang được dư luận quan tâm ở Việt Nam
Podcast website